TỪ MỘT KỶ NIỆM XA
Cao Huy Thuần
Được uống rượu đầu năm và bàn gẫu
câu chuyện cũ rích là chuyện trí thức, tôi có vui miệng kể lại cho bạn bè
hoàn cảnh đặc biệt, trong đó, lần đâu tiên, tôi đã hiểu và đã cảm nhận một
cách thấm thía hai chữ trí thức. Chuyện cũ đã mấy mươi năm, tưởng kể để
mua vui trong chốc lát, ai ngờ chủ nhà ép ra viết thành chữ nghĩa. Văn
tự hà tằng vi ngã dụng (chữ nghĩa nào dùng được việc gì cho ta – Thơ
Nguyễn Du) …
Tháng 5 năm 1963, tôi có việc riêng phải vào Sài Gòn.
Xong việc tôi ghé Nha Trang vài hôm thăm người quen trước khi ra lại Huế.
Tôi đang tắm biển ở Nha Trang thì nghe tin lựu đạn nổ trước đài phát thanh
Huế, đêm mồng 8, khi dân chúng tập trung trước đài để yêu cầu nghe lại
cuốn băng ghi âm buổi lễ Phật đản. Lựu đạn nổ, máu của chín em bé áo lam
thấm vào trang đầu của một giai đoạn lịch sử vừa bật mở, và tôi đang tắm
biển ở Nha Trang …
Khi tôi trở lại Huế, mắt tôi không thấy những xôn xao,
như tôi nghĩ, trong thành phố và giữa trường Đại học, vốn muôn thuở hiền
lành; nhưng tai tôi đón nhận không biết bao nhiêu là tin tức từ mọi nơi,
từ mọi giới, thầm thầm thì thì, rồi giục giã, thôi thúc. Tin tức từ tai
này chuyền qua tai khác, từ miệng nọ lan đến miệng kia, như một hơi gió bị
ép, có ai ngờ cơn bão cũng chỉ là triệu triệu cơn gió bị ép mà thôi.
Tôi về Huế chưa kịp ráo mồ hôi thì phải chuẩn bị vào
lại Sài Gòn cùng với một số nhân viên giảng huấn khác của trường Đại học.
Chúng tôi, cũng giống như hàng trăm giáo chức khác ở Đại học Sài Gòn, Đà
Lạt, phải tập trung học tập chủ nghĩa nhân vị trong ba ngày tại một trung
tâm dựng lên giữa đường Sài Gòn – Biên Hòa, gọi tắt cho tiện là “Trại Lồ
Ồ”, bởi vì nó nằm gần suối Lồ Ồ. Tổ chức cho Đại học, đầu não của trí tuệ,
Trại vận dụng tất cả trí tuệ của các chuyên viên nhân vị chủ nghĩa và
trang hoàng bằng tất cả hình thức uy nghi trong buổi khai mạc, với sự hiện
diện của các nhân vật cao cấp trong Chính phủ. Lần đầu tiên tôi được đi
học cùng lớp, cùng thầy, với các vị giáo sư cũ khả kính của tôi, ăn cùng
một món canh, ngủ cùng một thứ màn, rửa chân cùng một gáo nước, tẩy não
cùng một chân lý sáng ngời. Tôi không biết quý vị đã thông hiểu chủ nghĩa
như thế nào sau mấy ngày học tập; riêng tôi, tôi chỉ giữ lại trong đầu mỗi
một câu chuyện đùa của Thiếu tướng Tám, chỉ huy Trại. Ông Thiếu tướng kể
câu chuyện tếu này để nhập đề cho một bài giảng về cái quái gì đó trong
chủ nghĩa nhân vị hoặc trong Quốc Sách Ấp Chiến Lược: trong một buổi học
tiếng Anh, bà giáo Mỹ chấm một chấm (.) giữa một tờ giấy trắng mênh mông
và yêu cầu mọi người cho biết “bức tranh” đó gợi lên hình ảnh gì trong
đầu. Một người trả lời: cata-strophic, và thản nhiên cắt nghĩa: đó
là cái bụng của vợ tôi khi mang bầu. Mọi người cười tán thưởng. Có lẽ tôi
sẽ cười to hơn nếu ông Thiếu tướng nói: đó là bụng của cô bồ của
tôi …
Tôi nhớ câu chuyện tếu không mấy nhân vị đó bởi vì ông
Thiếu tướng sắp được học chữ catastrophic mà không cần phải nhìn
một cái bụng mênh mông. Ông học chữ đó trong ngày bế mạc Trại. Vinh dự tối
cao, Trại bế mạc với sự hiện diện của chính ông Ngô Đình Nhu. Từ sáng sớm
học viên chúng tôi đã đứng chào đón ông Nhu từ trực thăng bước xuống, theo
sau cả một đoàn tùy tùng cao cấp, sĩ quan, bộ trưởng. Ông Nhu ban huấn từ,
dĩ nhiên là về chủ nghĩ nhân vị. Tôi nghe mơ màng nhưng sực tỉnh ở đoạn
cuối, khi ông bước qua chuyện mấy trái lựu đạn ở đài phát thanh. Tất cả
đều là Việt Cộng, Việt Cộng khoác áo thầy tu, Việt Cộng ném lựu đạn. Chúng
tôi, đầu não trí thức, có nhiệm vụ tố cáo hành động dã man của Việt Cộng
trước dư luận thế giới đang bị tuyên truyền nhiễm độc.
Xong bài huấn từ bế mạc, ông Nhu bước lên trực thăng.
Ông Nhu không cao, nhưng hình như ai cũng thấp hơn ông một cái đầu.
Chúng tôi lại tập trung vào lớp, và bây giờ không phải
để học nhân vị nữa, mà để biểu quyết một kiến nghị tố cáo Việt Cộng dã man
ném lựu đạn trước đài phát thanh Huế. Quyết nghị của Giáo chức đại học tất
nhiên phải do chính giáo chức đề xướng, luận bàn, viết ra thành văn, và
biểu quyết. Do đó, các chuyên viên nhân vị chủ nghĩa rút lui, kể cả Thiếu
tướng Tám, nhường quyền điều khiển cho chính quý vị giáo sư. Ba bốn vị trí
thức cao cấp hăng hái động viên, cổ vũ chúng tôi suốt cả buổi sáng, nhiệt
thành nhất lại là ông thầy cũ của tôi ở trường Luật Sài Gòn, mà tôi vốn
kính trọng từ ngày đọc những bài viết về kinh tế của ông trong báo Phổ
Thông xuất bản ở Hà Nội trước 1954. Dưới sự điều khiển của một giáo sư
có uy tín, đồng thời lại là một nhân vật cao cấp trong chính quyền, chuyện
biểu quyết là chuyện tất nhiên. Chúng tôi ăn trưa, và tiếp tục thảo luận
về văn bản quyết nghị trong buổi chiều.
Buổi chiều, sự việc xảy ra một cách bất ngờ. Sau khi
các vị đại tri thức đề nghị bản văn biểu quyết, một chàng thanh niên trong
phái đoàn Huế ra trước hội trường phát biểu, và chàng ta đặt câu hỏi một
cách ngây thơ, nhưng bất ngờ: quý vị đoan chắc rằng Việt Cộng ném lựu đạn
ở Huế, nhưng quý vị ở tận Sài Gòn, Đà Lạt; vậy tại sao quý vị không hỏi
chúng tôi là những người ở Huế? Ai ném lựu đạn?
Cả hội trường nín lặng. Nín lặng như khi nhìn một bàn
tay đang thắp diêm, châm nến. Thành khẩn, tha thiết, nóng hổi, chàng thanh
niên kể rõ mọi chuyện từ đầu đến đuôi, từ gốc đến ngọn, từ khi xe quân đội
bao vây quần chúng đến quang cảnh súng nổ trước đài phát thanh. Cả hội
trường nín lặng, kinh ngạc. Khi vị thầy khả kính của tôi tiếp tục tiếp tục
lại nhiệm vụ điều khiển công việc biểu quyết, sự nhiệt thành của ông không
làm tan nổi nhiều ngượng ngùng trong không khí. Bây giờ thì chuyện biểu
quyết không còn đương nhiên nữa, mà phải thúc ép. Sức ép đang lên thì một
chàng thanh niên khác, cũng từ phái đoàn Huế, ra giữa hội trường nêu lên
vấn đề trí thức và sự thật. Quý thầy thường dạy học trò phải yêu sự thật,
xin quý thầy tiếp tục dạy cho chúng tôi bài học đó.
Thảo luận kéo dài từ chiều đến tối, và từ sau buổi ăn
tối đến khuya. Tố cáo Việt Cộng thì tố cáo; nhưng nhét vào bản văn biểu
quyết mấy chữ Việt Cộng ném lựu đạn thì không đủ cánh tay giơ lên.
Catastrophic ! Buổi họp tan, và Trại bế mạc khi ban chỉ huy biết có
đánh nữa cũng không thắng. Chín năm nhân vị: thách thức đầu tiên trong đại
học. Buổi tối đi ngủ, Hoàng Văn Giàu và Ngô Văn Bằng khoan khoái phủi chân
chui vào màn: hai chàng điếc không sợ trực thăng. Năm 1964, tờ Lập Trường
đăng Nhật Ký Lồ Ồ của Hoàng Văn Giàu; tôi muốn được xem lại quá.
Về lại Huế, không khí khác hẳn. Nhẫn nhục đã chuyển qua
tranh đấu, và tranh đấu công khai. Trong tháng 7, và nửa tháng 8, sinh
viên Phật tử đóng đô ở hai chùa Từ Đàm và Diệu Đế, tổ chức phát thanh, dân
chúng đi nghe càng ngày càng đông. Từ Đàm ở bên này sông, Diệu Đế ở bên
kia sông, những cuộc biểu tình im lặng đi từ chùa này qua chùa kia, dài
suốt cả những con đường dài, đi suốt cả lòng thành phố, im lặng, trang
nghiêm, đạo hạnh, làm chảy nước mắt những người không dám đi theo trong đó
có tôi. Cả thành phố xôn xao với những buổi phát thanh ở Diệu Đế, người đi
nghe xôn xao, người ở nhà nghe lại cũng xôn xao, đại học bắt đầu xôn xao,
sinh viên nôn nóng.
Tất nhiên các loa phóng thanh ở Diệu Đế nhắm về phía
Đại học, và chĩa thẳng vào lương tâm những người trí thức. Trong một thành
phố nhỏ, có văn hóa cao, trọng trí thức, trọng bằng cấp, trọng chữ nghĩa,
trọng đạo đức, một tiếng nói của Giáo sư đại học có giá trị như tiếng sấm
đầu tiên của cơn giông mùa hạ. Trời đất vần vũ từ đầu mùa hè 1963, cây cối
rung chuyển, đâu tia chớp đầu tiên? Sợ, dĩ nhiên là sợ, ai mà không sợ chế
độ đàn áp? Mấy ai bắt chước được chị tiểu thương Đông Ba phơi thây giữa
chiến địa, ung dung như con thiên nga trắng muốt dạo bơi giữa hồ? Nhưng
mặt khác, phẫn nộ trước bất công, áp bức, dối trá, miệt thị dâng tràn lên
cổ, và tình cảm liên đới với sinh viên thúc giục chân phải bước đi.
Đến một giây phút nào đó, kỳ lạ thật, những chuyện khó
khăn nhất bỗng trở nên giản dị, chín núi Thái Sơn cũng nhẹ như lông hồng.
Không biết ai đã rót vào tai ai lời nói đầu, anh Bùi Tường Huân nói với
tôi? Anh Lê Tuyên nói với anh Bùi Tường Huân? Hay là chỉ ánh mắt này nháy
ánh mắt kia, nghẹn ngào này gặp nghẹn ngào khác, không ai nuốt tủi nhục
trước sinh viên lâu hơn được nữa? Thoắt một cái, một buổi họp giáo chức
đại học được tổ chức, giữa mùa hè, trong lúc mỗi người phân tán mỗi nơi.
Con chim đầu đàn bay, các con khác cũng bay theo, khó khăn là ở cái vẫy
cánh đầu tiên. Anh Lê Tuyên lúc đó là giám đốc Văn khoa của Đại học Sư
phạm, anh có đôi cánh dài. Anh Bùi Tường Huân … Tôi thân với anh Huân vì
tôi dạy ở trường Luật và anh là khoa trưởng, chỉ có thế thôi, tôi không
biết gì hơn về anh Huân, và cũng chẳng hề muốn biết. Anh Huân có người bạn
thân là giáo sư Wulff, người Đức, dạy ở trường Y, sau này là một nhân
chứng quý báu của vụ đàn áp ở Huế. Anh có một người bạn ngoại quốc khác
nữa, ông Rose, người Mỹ, mà tôi chưa hề gặp. Sau này, đọc quyển truyện
Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, tôi mới nghe nói ông Rose là CIA.
Cũng chẳng có gì lạ. Các trường đại học danh tiếng nhất của Mỹ có lần đã
la làng phản đối, bởi vì CIA tuyển chọn nhân viên trong hàng ngũ ưu tú
nhất ở các đại học để phái đi làm Giáo sư ở khắp nơi. Anh Huân quen ông
Rose là chuyện của anh Huân; chuyện đó chẳng ăn nhập gì với buổi họp đầu
tiên của một số giáo chức đại học Huế giữa đe dọa, khủng bố của mùa hè
1963. Chẳng lẽ tất cả mọi chuyện lớn nhỏ vui buồn của giang sơn này đều
toàn là chuyện Việt Cộng ném lựu đạn với chuyện CIA xúi dại xúi khôn? Lúc
đó anh Huân là khoa trưởng, và sự việc một khoa trưởng chọn thái độ đứng
về phía sinh viên đang tranh đấu ở Từ Đàm, Diệu Đế là một hành động can
đảm mà mọi người đang chờ đợi. Hành động can đảm này lôi cuốn hành động
can đảm khác. Và kết quả là chúng tôi cũng phơi thây giữa chiến địa, không
ung dung bằng ai, nhưng thanh thản lương tâm. Mà đâu có phải để làm cái gì
ghê gớm! Chỉ để ra một tuyên ngôn.
Chiều hôm đó, các loa truyền thanh ở Diệu Đế phát đi
khắp thành phố bản tuyên ngôn của giáo chức đại học Huế. Tin bay vào Sài
Gòn. Và bay qua bên kia Thái Bình Dương. Phong trào đấu tranh trong đại
học bùng lên.
Anh Tuyên, anh Huân và toàn bộ sinh viên tranh đấu đều
bị bắt vào đêm 20.8, đêm quân đội tổng tấn công vào chùa chiền, và bị giam
giữ lâu nhất, cho đến ngày ông Diệm bị lật đổ. Ra khỏi tù khi “cách mạng”
thành công, anh Tuyên cười bảo tôi: “Chúng nó tra hỏi tôi ai viết bản
tuyên ngôn, tôi không khai cho cậu.”. Tôi tìm được hướng đi và lẽ sống
từ ấy.
Sau đảo chính 1.11.1963, hai sự việc làm tôi suy nghĩ
về vấn đề trí thức. Sự việc thứ nhất là nhiều nhà văn tên tuổi, nhiều trí
thức có tiếng ở Sài Gòn viết trên báo nhiều bài tự bạch trong đó các anh
tự trách mình, tự trách trí thức đã “đánh đĩ lương tâm”, “đánh
đĩ ngòi bút”, “dính máu ăn phần”. Mấy chữ này bây giờ nghe đã quá quen
tai. Năm 1963, đó là những lời sám hối đầu mùa. Ý thức về sự dễ khiếp
nhược, dễ a-dua của trí thức trước một chế độ độc tài có tầm cỡ lớn khiến
các anh đặt vấn đề cảnh giác của trí thức trước chính trị: cảnh giác ngay
từ đầu, đừng để chế độ bước từng bước vào tội lỗi, đừng vui chân đi đêm
với chế độ, đừng nghe cò kè trả giá, và đừng sáng mắt trước “vàng ngoài
bốn trăm”. Không phải tất cả – bởi vì trí thức không phải chỉ là bằng
cấp, chữ nghĩa hoặc chuyên môn – nhưng ít ra phải có một số trí thức nào
đó tự lấy nhiệm vụ lau chùi hàng ngày tấm gương trí thức chung để trí thức
cùng nhau soi lương tâm của mình, để giữ cho nhau chiếc lưng đứng thẳng,
không thua bất cứ ai một cái đầu. Các trí thức đó, với sự góp sức chung
của mọi người có lương tâm, giữ gìn và phát huy một chức năng vô cùng quan
trọng trong các nước chậm tiến, vốn là con mồi của bao nhiêu hình thức trì
trệ, một chức năng vốn sẵn thích hợp với truyền thống trọng đức, trọng
tài, trọng hiền trong xã hội Việt Nam: chức năng tri thức. Đây
không phải là chức năng đối lập, mà là độc lập.
Sự việc thứ hai làm tôi suy nghĩ là câu nói của một vị
lãnh đạo Phật giáo, cảnh cáo khuynh hướng đắc thắng bắt đầu manh nha nơi
một nhúm người vừa thoát khỏi áp bức ngày hôm qua: “Coi chừng, chúng ta
đã không chết đói mà sẽ chết no”. Khiếp! Chính trị là cái nhan sắc gì
mà ai cũng dễ si mê đến thế. Và quyền lực, “Tâu lạy Bà, Bà có nhiều
phép lạ”. Bà là Thượng Đế! Hôm qua tôi tù mọt gông. Hôm nay tôi gông
cả thiên hạ. May quá, thời cuộc 1963-64 chẳng hề cho phép lực lượng mới
nào thiết lập trật tự mới, cho nên những kẻ ngồi tù hôm qua chưa quên
chiếc gông của mình. Nhưng câu cảnh cáo đậm đà mùi vị ẩm thực của vị lãnh
đạo giữ nguyên giá trị thiên thu của tiếng chim vỗ cánh báo mùa biển động.
Bởi vì, nếu “người quân tử ăn chẳng cầu no”, như đức Khổng Tử dạy,
là vì người quân tử ăn cơm với rau má, chứ nếu người quân tử được ăn quyền
lực thì người quân tử ăn vỡ bụng cũng chẳng biết no.
Cho nên người trí thức, đứng trước chính trị và quyền
lực, có cái trách nhiệm tự cảnh giác mình và cảnh giác người ngay cả trong
trường hợp chính phe của họ lên cầm quyền. Ngay cả trong trường hợp đó,
chức năng tri thức mà họ gìn giữ vẫn phải độc lập, tỉnh táo đối với
chức năng chính trị mà chính bạn của họ đảm đương. Họ càng phải lau chùi
lương tâm của họ kỹ hơn nữa, bởi vì họ không muốn bạn của họ rơi vào vết
xe đã lăn xuống hố. Tri thức không phải là người không biết uống rượu
nhưng là người nhàm chán say sưa trong chốn cung đình. Dù là với bạn.
Chúng tôi chưa có ai say trong thời 63-64, tuy có người
dự vào bàn tiệc của chính trị, hoặc tự ý hoặc “bị” đề cử. Một số ít vào
Sài Gòn làm xe pháo mã trong một ván cờ chưa biết ai là tướng. Hầu hết ở
lại Huế làm báo. Làm nhiệm vụ gìn vàng giữ ngọc cho lương tâm. Tờ Lập
Trường ra đời.
Mãi đến sau này, khi đọc Weber, tôi mới thấm thía tên
tờ báo cũ của chúng tôi. Tôi thấy tội cho anh Tôn Thất Hanh khi bị đề cử
tham gia Thượng Hội Đồng Quốc Gia cùng với bác sĩ Lê Khắc Quyến, cũng bị
đề cử. Anh Hanh là người khoa học, đâu có ưa gì chính trị. Ra đi, anh chết
trong lòng rất nhiều, bởi vì anh thừa biết chính trị là nhan sắc. Nhưng
anh phải đi, bởi vì nếu không thì không trả lời được câu chỉ trích: “Bộ
trí thức các anh chỉ có cái mồm biết nói thôi sao?”. Anh Hanh và anh
Quyến lúc đó phải tham gia vào cái nhiệm vụ đạo đức mà Weber gọi là đạo
đức trách nhiệm (éthique de la responsabilité). Đây là đạo đức của
những người hành động, nghĩa là những người luôn luôn phải nhìn vấn đề
dưới tương quan giữa phương tiện và cứu cánh, đôi khi vì hiệu năng mà phải
dùng những biện pháp trái với chính lương tâm của mình. Tờ báo của chúng
tôi nhắm đến một đạo đức khác mà Weber gọi là đạo đức của niềm tin
(éthique de la conviction). Đây là đạo đức khiến con người hành động theo
lương tâm mà không cần phải để ý đến hậu quả. Tận cùng của đạo đức này là
thái độ của người theo thuyết bất bạo động tuyệt đối: thà tôi chết chứ
không cầm súng giết người. Anh chàng này ngu chăng? Khùng chăng? Không,
anh ta tin như vậy, và anh ta chỉ muốn chung thủy với lòng tin của anh,
với lập trường của anh, mặc ai nghĩ gì thì nghĩ, và cho dù mặt trời
có nổ ra muôn mảnh trên đầu anh ta, anh ta vẫn tin như thế và hành động
như thế.
Tất nhiên, trên thực tế, hai thứ đạo đức vừa nói không
mấy khi nằm ở trạng thái nguyên chất, trạng thái ròng: trách nhiệm nào lại
chẳng dựa trên lòng tin, và lòng tin nào lại chẳng có ý thức về trách
nhiệm? Thế nhưng sự phân biệt hai thứ đạo đức trên lãnh vực lý thuyết làm
sáng tỏ hai thái độ khác nhau, một bên là của người cầm quyền, một bên là
của người trí thức, hai thứ đạo đức khác nhau nhưng cần nhau và bổ túc cho
nhau, như ngày với đêm, như ngủ với thức. Cho nên tôi không thể thiếu anh,
tôi cần anh, tôi trọng anh; nhưng anh phải hiểu là anh cũng không thể
thiếu tôi, anh cần tôi, anh trọng tôi, anh trọng sự độc lập của tôi dù cho
điều đó có làm phiền anh. Để ngọn hải đăng vẫn sáng khi con tàu lạc hướng.
Để quyền lực không phải là bạo lực.
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 06-2003