Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

 Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Bồ Tát


. . .


 

HỘI PHẬT HỌC PHỔ MINH

-Xuân 2007-

 


Bodhicaryàvatàra

NHẬP HẠNH BỒ TÁT

 

Sàntideva (Tôn giả Tịch Thiên) 

Việt dịch:  Nguyên Hiển

Hiệu đính: Lê Triều Phương

 

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Ngài Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát. Đọc tụng luận này, hành giả có thêm hùng tâm dũng chí để giúp Đạo, cứu đời.

Dịch giả đã tham cứu các bản dịch dưới đây:

- Bản Hán dịch của Trần Ngọc Giao

- Bản Pháp dịch của Georges Driessens

- Bản Anh dịch của Kate Crosby và Andrew Skilton

- Bản Việt dịch của Thích Nữ Trí Hải .

Luận này là sách gối đầu giường của Tăng, Ni, Phật tử theo lối tu Đại thừa ở Ấn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ và Trung Hoa. Vì dịch theo lối thi kệ để dễ tụng đọc và dễ nhớ cho nên quá súc tích và quá ngắn gọn, vì vậy không thể tránh khỏi có chỗ vụng về và tối nghĩa. Xin chư tôn đức cùng quý Phật tử cao minh từ bi chỉ giáo để khi tái bản dịch phẩm này được hoàn chỉnh hơn. 

Xin chân thành cảm tạ hai Pháp hữu Tâm Zen và Như Pháp Trí đã giúp phần hiệu đính và hoàn thành dịch phẩm này. Xin hồi hướng công đức đến pháp giới chúng sanh thoát ly luân hồi khổ não, viên thành Phật đạo. 

California, Mùa Phật Đản 2459-2005

Nguyên Hiển

 

Lời thưa về việc hiệu đính

 

Tập Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát,“ của Tôn giả Santideva, do cư sĩ Nguyên Hiển dịch sang Việt ngữ năm 2005, theo thể kệ, đã đến tay tôi trong một hoàn cảnh đầy kỷ niệm. Năm 2005, chúng tôi bị một bệnh nặng hành hạ suốt nửa năm dài. Hàng ngày đau nhức vô cùng. Chúng tôi chưa đồng ý để bác sĩ mổ và kham nhẫn chịu đựng. Hàng ngày niệm Phật và thỉnh thoảng đọc phẩm Phổ Môn. 

Một ngày nọ, năm người bạn từ phương xa đến thăm vì muốn „tiếp sức“ cho chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đang nằm ở bệnh viện trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Các bạn phải trò chuyện cùng nhau nơi hành lang của bệnh viện. Cuối cùng chúng tôi gặp mặt nhau khoảng 15 phút rồi chia tay. Riêng đạo hữu Nguyên Định đã đem theo để tặng và khuyên chúng tôi nên đọc tập Luận nói trên. Chúng tôi đọc lướt qua và thấy nội dung vô cùng ý nghĩa. 

Một buổi tối, sau bữa ăn chiều, chúng tôi đọc lại tập Luận kỹ hơn. Bỗng dưng trong đầu chúng tôi vang lên âm thanh như dòng nhạc của những câu kệ trong phẩm Phổ Môn, ví dụ như  

„Bi thế giới lôi chấn,

Từ ý diệu đại vân,

Chú cam lồ pháp vũ

Diệt trừ phiền não diệm“ hoặc

„Diệu âm, Quán thế âm,

Phạm âm, hải triều âm,

Thắng bỉ thế gian âm,

Thị cố tu thường niệm“.  

Lòng chúng tôi bỗng nổi lên cảm hứng chỉnh sửa ngay lại một số câu trong bản dịch của cư sĩ Nguyên Hiển, với ước muốn mình có riêng một bản Luận đọc nghe êm nhẹ hơn, dù không bằng những câu ví dụ trong phẩm Phổ Môn.  

Chúng tôi vừa đọc vừa ghi chép cho đến khi cảm thấy buồn ngủ. Kim đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc: Tại sao mình đã mất cảm giác đau nhức và mệt mỏi suốt 6 tiếng đồng hồ? Có gì linh thiêng và huyền nhiệm tỏa ra từ những dòng kệ „Nhập Hạnh Bồ Tát“chăng? Chúng tôi đi ra hành lang bệnh viện để kiểm lại thì giờ. Đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya. 

Hôm sau, đạo hữu Nguyên Châu, trong nhóm những người đã đến thăm chúng tôi, gọi điện thoại hỏi về bệnh tình. Chúng tôi thuật lại chuyện kỳ diệu đã trải qua trong đêm. Đạo hữu liền kể ngay cho tôi biết lược sử của Tôn giả Santideva và cho biết Phật tử Tây Tạng rất sùng kính Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát“ như Phật tử châu Á sùng kính phẩm Phô Môn. Nhiều Phật tử đã cảm nhận được sức mạnh thiêng liêng toát ra từ tập Luận. Cuối cùng đạo hữu đã khuyên chúng tôi nên cố gắng „đánh bóng“ công trình việt dịch của cư sĩ Nguyên Hiển vì điều này vừa giúp cho bản thân chúng tôi giảm được sự đau khổ của thân xác trong lúc đau bệnh và biết đâu bạn bè nhờ đó mà có được một bản dịch dễ tụng hơn. Chúng tôi đã hứa sẽ theo đuổi việc „đánh bóng“ ấy. Động cơ quan trọng nhất đã thúc đẩy việc làm của chúng tôi là đạo hữu Nguyên Hiển đã cho phép chúng tôi hiệu đính lại bản dịch của anh. 

Những ngày hôm sau chúng tôi lần lượt nhận được 5 bản dịch khác do bạn bè gởi đến với lời khuyến khích làm công việc hiệu đính. Đó là bản Đức ngữ „Eintritt in das Leben zur Erleuchtung“ do G.S. Ernst Steinkellner chuyển ngữ năm 1981, ba bản Việt ngữ gồm có: „Bồ Tát Hạnh, do Thượng Tọa Thích Trí Siêu dịch năm 1990, „Nhập Bồ Tát Hạnh“ do Ni Sư Thích Nữ Trí Hải dịch năm 1998 và „Một tia chớp sáng trong đêm tối“ do đức Dalai Lama giảng giải và do Đoàn Phụng Mệnh dịch năm 1999 và bản Anh ngữ „Engaging in Bodhisattva Behavior“ do ông Alexander Berzin dịch năm 2005. Sáu bản dịch rất công phu với những chú giải rõ ràng mà chúng tôi đọc được, đã soi sáng cho chúng tôi thấy được nội dung và ý nghĩa của con đường đi của các bậc Bồ Tát.  Nơi đây, chúng tôi chân thành bày tỏ sự tri ân sâu sắc của chúng tôi đến tất các vị dịch giả và giảng giải. 

Hôm nay, sau gần một năm rưi, chúng tôi hoàn thành bản hiệu đính với tâm trạng khinh an, mặc dù vẫn còn nhiều khuyết điểm. Chúng tôi xin hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh và cầu mong cho tất cả đều đạt được mục đích giác ngộ và giải thoát. 

Chúng tôi cũng xin bày tỏ sự cám ơn sâu sắc đến hiền nội và bằng hữu đã khuyến khích và hỗ trợ việc hiệu đính, hỗ trợ tìm tài liệu, đánh vi tính và sửa lỗi chính tả.

 

                Göttingen, Germany, ngày 14.01.2007

Lê Triều Phương

 

 

TIỂU SỬ

TÔN GIẢ TỊCH THIÊN (SÀNTIDEVA) 

 Thích Trí Siêu  (Pháp)

 

  Theo truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua Surastra. Từ những kiếp quá khứ, ngài đã cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đã nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát.

Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ tát: Văn Thù và Tara. Bồ tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: ”Ở đây không có chỗ cho hai người”. Bồ tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài và nói rằng: ”Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi về nước nầy đây.”

 Tỉnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ tát, nên đêm hôm trước khi ngài lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm ngọt như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: ” Cô ở đâu đến?” . Thiếu nữ trả lời: ”Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép tam muội củaVăn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây”.

Vừa nghe như thế, tôn giả Sàntideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy đó là một vị hành giả (Yogi) sống trong một chòi lá, ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát. Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia chính là Tara. Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát.

Sau đó ngài đi về phương Đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Để tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh chủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ. Ngài giúp vua trị vì đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, tìm cách gièm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng: ”Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại”. Vua tin lời cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: ” Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi ngờ nhất quyết đòi xem.

Cuối cùng, Thừa tướng nói với vua: ”Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Đại thành tựu giả nên cầu xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tròng lại khiến vua khỏi mù.

Sau đó tôn giả bỏ chức Thừa tướng, tìm đến tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Sàntideva. Sau khi nghe hết ba tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksàsamuccaya, Sùtrasamuccaya và Bodhicaryàvatàra.

Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ tát trong thiền định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang. Tuy vậy, chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ, không chịu văn, tư, tu gì cả. Thấy thế một số Thượng toạ học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến:  Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận ; ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: ”Nếu vậy, phải làm cho tôi một toà sư tử tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì được.

Sau khi lên ngồi toà sư tử, ngài hỏi: ”Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau này?”. Vì muốn chế giễu ngài nên đại chúng nói: ”Những sáng tác mới sau này”. Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattava-caryavatara). Khi tụng đến câu: Khi Có và Không không còn khởi lên trong tâm…... thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy trên bàn để lại ba quyển: Sutràsamuccaya (Tập kinh luận), Siksàsamuccaya (Tập Bồ Tát học luận) và Bodhicaryàvatàra (Nhập Bồ đề hành luận).

 

 

 CHƯƠNG I 

 

LỢI ÍCH CỦA TÂM BỒ ĐỀ 
 

Đối tượng và mục đích

   
1. Con trân trọng cúi đầu

Đảnh lễ các đức Phật (1)

Cùng các vị Thừa Kế (2)
Và những bậc đáng kính. 
Con nương lời Phật dạy

Xin nêu lên ngắn gọn  
Lối vào hạnh Bồ Tát  
   
2. Luận này nghĩa chẳng mới  
Vần điệu cũng không hay  
Chẳng dám vì lợi tha  
Viết ra để nhắc nhở

Và thấm nhuần tâm mình.  
   
3. Nhờ sự nhắc nhở này  
Mà tín tâm tăng trưởng  
Ai cùng một tin tưởng  
Cũng được lợi ích nhiều.

 


Lợi ích của tâm bồ đề

   
4. Hạnh phúc thay gặp duyên

Sinh ra thân con người

Nay không nhân cơ hội

Để tu hành giải thoát  
Sau này tìm đâu ra.  
   
5. Như đêm mây dày dặc  
Được lằn chớp chiếu soi 
Nhờ thần lực chư Phật
Tâm lành thoảng khởi lên.  
 
6. Đức hạnh rất yếu ớt

Trước sức mạnh điều xấu   
Chỉ có tâm Bồ đề  
Mới cưỡng lại, đứng vững.  
   
7. Trải nhiều kiếp tư duy  
Phật thấy tâm Bồ đề
Có công đức vô lượng  
Cứu vô số chúng sinh

Thoát ra ngoài biển khổ.  
   
8. Muốn thoát khổ của đời  
Trừ tai họa muôn loài  
Muốn được chân hạnh phúc  
Chớ rời tâm bồ đề  
   
9. Người người trong sanh tử  
Phát được tâm bồ đề  
Được gọi là con Phật  
Xứng đáng được tôn kính  
   
10. Nước phép tâm bồ đề  
 Sẽ biến thân ô trược  
 Thành thân Phật vô giá  
 Hãy giữ Bồ đề tâm 
   

 

11. Đấng Đạo sư thấy rõ  
 Tâm Bồ đề qúi báu  
 Muốn vượt thoát ba cõi   
 Phải giữ vững tâm này.
   
12. Làm lành như cây chuối  

Quả hết rồi héo khô  
Tâm Bồ đề to lớn

Như đại thụ xum xuê  
Luôn sinh quả tươi tốt.

 

13. Người đời phạm tội nặng  
 Nhờ thế lực che chở  
 Biết sự nghiệp đã tạo  
 Sao chẳng tìm chỗ nương?  
   
14. Đức Di Lặc đã giảng

cho Thiện tài biết rằng

Tâm Bồ đề kỳ diệu

Như lửa thời hoại kiếp

Đốt tan bao tội nặng

Chỉ trong một sát na. 

 

 

Hai loại tâm bồ đề
        
15. Tâm bồ đề bao gồm
 Hai nguyện để tu tập:  
 Trước là nguyện phát tâm  
 Sau thực hành tâm ấy.   
   
16. Ai cũng đều biết rằng
“Muốn đi“ khác với “đi“  
 Người trí nên biết rõ 
 Sự khác biệt như vậy. 
   
17. Nguyện phát tâm bồ đề  
 Tuy sinh kết quả lớn  
 Song không thể sánh bằng
 Nguyện thực hiện tâm này.

 

 

Ca ngợi tâm bồ đề 
   
18-19. Những ai đã quyết tâm

Cứu độ mọi chúng sinh

Thì không thể ngừng nghỉ

Thực hiện tâm bồ đề.  
Từ lúc ấy trở đi  
ngay trong khi ngủ nghỉ  
Phước đức vẫn liên tục  
Tăng lớn như hư không  
   
20. Để người tin Tiểu thừa

Không ngừng bước tiến lên   
Trong Kinh Vấn Diệu Lý  
Đấng Như Lai đã dạy 
Công đức tâm bồ đề

Thật rộng lớn vô biên.  
   
21-22. Chỉ nghĩ cách chữa lành 
Đầu mọi người khỏi nhức
Là sự phát tâm quý  
Đem cho ta phước đức. 
   
Phước đức càng lớn hơn

Khi cứu giúp chúng sinh

Thoát ưu phiền thống khổ

Đạt được cõi an lành. 
   
23. Có cha nào, mẹ nào  
Đã phát tâm như vậy?  
Tiên, chư Thiên, Phạm Thiên  
Đã có chưa tâm ấy?  
   

24. Xưa nay dù trong mơ

Chưa ai nguyện như thế

Dù vì lợi cho mình

Nói chi đến phát nguyện

Cứu độ cho người khác.

 

25. Làm sao có thể tìm

Được một vị Bồ Tát

[Một viên ngọc hy hữu]

Giữa chúng sinh ích kỷ

Chẳng biết làm điều lành

Vì lợi ích chúng sinh!

 

26. Tâm bồ đề trân quý  
Là mầm mống an vui  
Là linh dược diệt khổ  
Tạo phước đức vô lường. 
   
 27. Ý nghĩ làm lợi người  
Đã hơn phước cúng Phật  
Huống chi luôn nỗ lực  
Làm lợi lạc chúng sinh. 
   
28. Có biết bao chúng sinh

Tuy cầu mong an vui

Song hủy diệt nguồn cội

Sản sinh ra hạnh phúc

Như tận diệt kẻ thù.   
   
29. Chúng sinh thiếu niềm vui  
Lại chịu nhiều đau khổ  
Tâm nguyện Bồ đề này  
Đem vui và diệt khổ. 
   
30. Tâm Bồ đề có thể  
Trừ diệt sự ngu si  
Có bạn lành nào sánh  
Còn phước nào lớn hơn?  
   
31. Ta khen kẻ đáp ơn  
Khi thọ ân bố thí   
Bồ tát luôn ban ơn

Dầu chưa được cậy nhờ

Với tâm hạnh như vậy

Đáng ca ngợi xiết bao!  
    

32. Kẻ bố thí thức ăn

Giúp chúng sinh đỡ đói

Dù họ no nửa ngày

Đã là người đáng trọng  
 
33. Bồ tát thường ban cho    

Niềm vui của chánh giác  
Làm thỏa mãn tất cả  
Nguyện vọng mọi hữu tình . 
   
34. Đức Phật đã dạy rằng

Bồ tát cứu muôn loài

Nên đáng được tôn quý

Ai phỉ báng Bồ tát

Sẽ sa đại địa ngục   
   

35. Ngược lại, ai tín thành

Cung kính chư Bồ tát

Sẽ hưởng phước đức lớn

Bồ Tát dù gian nan

Việc ác vẫn không làm

Càng hăng làm việc thiện. 
   

36. Tôi kính xin đãnh lễ

Người phát tâm bồ đề

Đem vui cho chúng sinh

Cho cả kẻ hại mình.

Tôi cúi đầu kính lạy

Và xin được quy y

Nơi chư vị Bồ tát

Cội nguồn chân hạnh phúc.   

 

 

 

CHƯƠNG II
 

SÁM HỐI TỘI NGHIỆP  
   

 

Nghi lễ Bồ Tát

 

Ca ngợi

   
1. Để con nắm giữ được

Tâm nguyện quí giá này  
Con cúng dường chư Phật  
Và Pháp Bảo thiêng liêng

Con cúng dường Bồ tát  
Đầy phẩm tính tốt lành.  

 

 

Cúng dường
   
2. Cúng dường hoa quả tươi  
Thức ăn ngon quý nhất

Nước uống thật tinh khiết

Vật quý báu trên đời 
 
3. Cúng dường núi châu báu

Rừng thanh tịnh ngát hương

Hoa cõi trời diễm tuyệt

Trái quý buông trĩu cành  
   
4. Cúng dường những hương thơm

Ngào ngạt cõi trời đất

Cúng dường trang sức quý

Cúng dường cây như ý

Thành tựu mọi ước mơ

Cúng dường mọi ngũ cốc

Tự sinh không người trồng.   
 
5. Cúng dường ao sen đẹp

Thiên nga hót dịu êm

Và mọi vật vô chủ

Đầy dẫy khắp bầu trời.   
   
6. Con giữ chúng trong tâm

Dâng lên đấng Thế Tôn

Và chư vị Bồ tát  
Thỉnh cầu đức Thế Tôn  
Từ bi nghĩ đến con

Mà nhận vật cúng dường.  
   
7. Con vô phước bần cùng  
Không một chút tài sản  
Kính xin đức Phật thương  
Nhận lễ vật tâm con. 
   
8.  Con nguyện đem thân tâm  
Để làm kẻ nô bộc 

Phụng sự Phật, Bồ tát  
Mong quí ngài xót thương

Thâu nhận lễ vật này.  
   
   
9.  Được các ngài thâu nhận

Thân tâm con siêu thoát  
Con nguyện sống lợi tha  
Diệt trừ các ác nghiệp.  
    
10-11. Đây nhà tắm tráng lệ

Nền thủy tinh long lanh

Cột trụ khảm trân châu

Lọng dù bằng ngà ngọc  
   
Trần thiết lộc bình quý  
Đầy nước thơm thích ý  

Ngân vang muôn diệu âm  
Thỉnh Phật, Bồ tát tắm  
   
12. Đây khăn tắm sạch thơm
Lau khô thân các ngài  
Đây y phục cõi trời

Với màu sắc mỹ lệ

Lan tỏa hương dịu thơm. 
   
13. Đây y phục mềm mại  
Và trăm trang sức quý  
Dâng lên Đức Phổ Hiền, 
Văn Thù, Quán Thế Âm. 
   
14. Hương liệu thơm vũ trụ  
Xin thoa ngọc thể Ngài  
Tỏa hào quang thanh tịnh  
Óng ánh sắc vàng ròng.  
   
15. Xin cúng dường chư Phật

Các tràng hoa đẹp đẽ

Kết từ hoa tươi thơm

Như hoa sen, hoa lài

Hay hoa mạn đà la. 
   
16. Con xin dâng chư Phật

Vầng mây hương ngây ngất

Dâng thực phẩm cõi trời

Thức ăn uống đẹp ngon. 
   
17. Con dâng đèn hoa ngọc 
Chân chạm đá sen vàng  
Nền nhà dịu mát hương  
Rải đầy hoa đẹp ý. 
   
18. Xin cúng dường chư Phật

Những lâu đài tráng lệ

Rèm buông ngọc lung linh

Du dương ngân tiếng hát. 
   
19. Xin dâng hiến chư Phật  
Lọng che bằng châu ngọc 
Cán đúc toàn vàng ròng  
Viền thêu hoa mỹ lệ. 
   
20. Cúng phẩm nhiều như mây  
Nhạc du dương hoà tấu
Khổ đau được dịu xoa
Mong sao chúng mãi còn.  
   
21. Mưa hoa, mưa ngọc ngà

Mong luôn luôn buông rơi  
Trên thân Phật, tháp Phật

Trên giáo pháp diệu kỳ. 
   
22. Như Ngài Diệu Cát Tường   
Xưa kia cúng dường Phật  
Nay con xin cúng dường  
Phật, Bồ tát như vậy.  
   
23. Dùng âm vang hải triều  
Tán dương công đức Phật  
Nguyện tiếng tán dương này  
Luôn vang đến các Ngài. 
   
24. Nguyện hoá thân như bụi  
Lễ lạy Phật ba đời  
Lễ lạy Pháp và Tăng  
Cùng khắp cả pháp giới. 
    
25. Con lễ lạy tháp Phật  
Các nơi Bồ tát ở (3)
Lễ bậc trì giới nhất  
Kính lễ hàng thánh tăng.

 

 

Quy y 
   
26. Từ nay cho đến khi
Đạt Vô thượng Bồ đề  
Con nguyện quy y Phật,  
Pháp và chư Bồ Tát.

 

 

Sám hối 
   
27. Trước chư Phật, Bồ Tát

Ở cùng khắp mười phương  
Thánh chúng bi trí huệ  
Con xin chấp hai tay  
Thành khẩn nguyện như vầy:   
   
28-29. Từ vô thỉ đến nay  
Trôi lăn trong sinh tử

Với tội ác không lường

Do tự mình gây ra

Hay xúi giục người làm

Vì vô minh che lấp

Nay con biết lỗi lầm

Thành tâm xin sám hối. 
   
30-31. Lỗi lầm con đã phạm

Qua nghiệp thân, khẩu, ý

Đã gây bao tổn hại

Cho Tam bảo (4), mẹ cha

Cũng như cho Thầy Tổ

Và cho bao kẻ khác

Nay trước đức Thế Tôn

Con thành tâm sám hối

Mọi tội lỗi gây ra.    
   
 32. Nếu sám hối chưa trọn  
Con lỡ chết thì sao?   
Vậy xin Ngài mau cứu  
Trước khi thần chết đến.  
   
33. Thần chết thật lừa lọc

Nó không biết đợi chờ  
Tội rửa sạch hay chưa  
Dù đang bệnh hay khỏe

Con không thể nào tin

Vào mạng sống mong manh

Lập loè như lửa đóm. 
   
34. Con đã không ý thức

Chết là bỏ tất cả

Nên con đã quanh quẩn

Với bè bạn, kẻ thù

Nên đã tự gây ra

Biết bao điều xấu ác.

   
35. Đời người như mộng ảo

Điều gì đã trải nghiệm

Cũng chỉ là ký ức

Tất cả đều trôi qua

Không bao giờ trở lại. 
   
36. Kẻ thù thành hư vô  
Người thân như mây khói
Thân ta rồi phải chết  
Tất cả trở về không. 
   
37. Trong đời ngắn ngủi này

Kẻ thân, thù đã chết

Duy nghiệp ác đã gây

Còn lại đe dọa ta. 
    
38. Tôi đã không ý thức

Rồi cũng chết như họ

Nên cứ tham sân si

Tạo ra bao lầm lỗi. 
   
39. Mạng sống giảm từng ngày  
Chẳng bao giờ ngừng nghỉ  
Không thể nào tăng lên  
Làm sao ta thoát chết? 
   
40. Đến lúc sắp lâm chung

Dù thân thuộc vây quanh

Thống khổ lúc hấp hối

Tôi gánh chịu riêng mình.  
   
41. Khi Diêm Vương đến bắt  
Thân bằng có ích gì?  
Chỉ phước đức mới cứu  
Tôi lại chưa tu tập!  
   
42. Do buông lung không biết

Hậu quả xấu mai sau

Bám víu đời mong manh

Ta tạo bao nghiệp xấu.   

 

43. Như kẻ ra pháp trường  
Kinh hãi, miệng khô đắng  
Mắt trợn trắng, thất thần  
Hình sắc cũng đổi khác. 
   
44. Huống chi khi thấy bóng

Ma vương đến bắt ta

Kinh hoàng sao kể xiết

Khổ đau dâng tột cùng.  
   
45. Ai cứu tôi ra khỏi  
Cơn sợ hãi lớn này  
Tôi tròn xoay đôi mắt   
Nhìn bốn phương van cầu. 
   
46. Bốn phương không thấy ai
Sợ hãi lại càng tăng

Không nơi nào che chở

Tôi phải làm sao đây?  
   
47. Con xin quy y Phật

Ngài là đấng Từ Bi

Bảo vệ, đem lợi ích 
Cho tất cả muôn loài  
Có năng lực giải cứu

Tiêu trừ bao hãi sợ.  
   
48. Con xin quy y Pháp   
Mà chư Phật chứng ngộ

Có thể đưa chúng sinh

Sang đến bờ giải thoát

Và con xin quy y

Nơi chư vị Bồ Tát.

   
49. Trong cơn sợ bấn loạn

Con xin dâng thân mạng

Lên Bồ tát Phổ Hiền

Và Bồ tát Văn Thù.

 
50. Với tiếng kêu khẩn thiết

Con cầu Đức Quan Âm

Với tấm lòng đại bi

Cứu con, kẻ mê lầm. 

51. Con cầu cứu các Ngài  
Hư Không Tạng Bồ Tát  
Địa Tạng Vương Bồ Tát  
Chư Bồ Tát đại bi.  
   
52. Con cũng xin nương tựa  
Kim Cương Trí Bồ Tát  
Ngài mà các sứ giả  
Của Diêm vương khiếp vía . 
   
53. Xưa trái lời Phật dạy

Nay gặp nạn hãi hùng

Con xin quy y Phật

Mau cứu độ cho con.  
 
54-56. Với bệnh nhẹ tầm thường

Đã tuân lời thầy thuốc

Huống chi trăm thứ bệnh

Sinh từ tham sân si! 
   

Một trong trăm bệnh này

Đã đủ làm tiêu hủy

Mọi loài Nam Diêm phù

Nay chạy khắp mọi nơi

Tìm không ra thuốc chữa.  
   
Phật là đại y vương

Dạy giáo lý thoát bệnh

Những ai không làm theo

Thực ngu si đáng trách.  
   
57. Bên hố sâu vài trượng

Tôi đi phải đề phòng

Cạnh địa ngục sâu thẳm

Sao đời đời nhởn nhơ?  
   
58. Nghĩ rằng tôi chưa chết

Nhởn nhơ sống phóng dật

Quả thật là dại khờ

Bởi vì sớm hay muộn

Cái chết phải đến thôi. 
     
59. Tôi không thể có được

Cái cảm giác dễ chịu

Rằng trong ngày hôm nay

Thần chết sẽ không đến.

Chắc chắn nó xuất hiện

Làm sao yên hưởng nhàn?

 

59. Ai cho sự không sợ

Ai chỉ tôi lối thoát  
Làm sao thoát hãi kinh

Của sự chết phải đến  
Sao có thể nhởn nhơ? 
   
60. Khoái lạc đã trải qua  
Chỉ còn là hoài niệm  
Bám víu mà làm chi  
Để trái lời Phật dạy? 
   
61. Chết là lìa bỏ hết  
Người thân và bạn bè 
Đi vào cõi vô định  
Bạn hay thù ích chi?  
   
62. Tôi nên hằng ngày đêm

Tỉnh thức với tư duy

Rằng gieo ác, gặt ác

Làm sao ta tránh khỏi

Sự gieo xấu ác đây?  
   
63-64. Vì ngu đần, vô minh

Phạm giới do Phật chế

Gây biết bao tội lỗi

Lòng run sợ ác báo. 

Nay đối diện chư Phật

Con chấp tay đãnh lễ

Chư Phật và Bồ tát

Xin thành tâm sám hối.  
   
65. Mong các Ngài tha thứ

Bao tội lỗi từ xưa

Và con xin thệ nguyện 
Vĩnh viễn không tái phạm

Những hành vi độc ác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG III 

PHÁT TÂM BỒ ĐỀ  



 

Vui theo hạnh lành

 
1. Tôi xin vui sướng theo

Công đức và hạnh lành

Mà chúng sinh thực hiện.

Tôi cầu họ an vui. 
 
2. Tôi vui mừng ca ngợi

Chúng sinh thoát khổ ải

Và thoát vòng luân hồi

Thành Bồ tát, thành Phật.
 
3.  Tôi xin vui sướng theo

Tâm nguyện như biển cả

Của chư Phật, Bồ tát

Giúp mọi loài đang sống

Được hạnh phúc an vui.

 

 

Thỉnh cầu chánh Pháp

 
4. Tôi chấp tay thỉnh cầu

Chư Phật khắp mười phương
Đốt lên đuốc chánh pháp
Soi đường kẻ lầm mê

Đang rơi vào thống khổ.

 

 

Thỉnh cầu bậc Chiến Thắng

    ở lại thế gian
 
5. Tôi chắp tay thỉnh cầu

Xin các bậc Chiến Thắng

Đang muốn nhập Niết Bàn

Hãy ở lại thế gian

Suốt hằng hà sa kiếp

Để cứu độ chúng sinh

Thoát khỏi vòng tăm tối.

 

 

Hồi hướng công đức
 
6.  Với công đức làm lành

Tôi tích tụ từ lâu

Nay xin nguyện hồi hướng

Cứu khổ mọi sinh linh.
 
7.  Với chúng sinh đau bệnh
Nguyện hoá làm thuốc hay
Vừa làm thầy thuốc giỏi
Vừa làm kẻ điều dưỡng.
 
8.  Thời tai ương đói khát

Nguyện làm thức uống ăn

Nguyện như mưa cam lồ

Dập tắt lửa đói khát.
 
9.  Đối với kẻ bần hàn

Nguyện thành kho vô tận

Nguyện thành nhu yếu phẩm

Đáp ứng mọi nhu cầu.

 

 

Tự hiến thân mình
 
10. Vì an vui chúng sinh

Nguyện dâng hiến tất cả

Tài sản và thân mạng

Làm thiện suốt ba đời.
 
11. Buông hết tất thoát khổ
Tâm tất được thanh tịnh
Trước sau phải bỏ hết
Sao bằng bố thí ngay.
 
12-13. Tôi nguyện đem thân này
Bố thí cho chúng sinh
Họ tha hồ mắng chửi

Đánh đập hay giết hại.
 
Hoặc đem ra mua vui

Tâm tôi vẫn vắng lặng

Vì quyết xả thân này

Nên không hề nuối tiếc.
 
14. Trong khi hành hạ tôi

Dù lòng họ sướng vui

Tôi cũng xin khấn nguyện

Họ không bị ác báo .
 
15-16. Việc gì lợi chúng sinh

Tôi khiến thân này làm.

Nguyện ai gặp gỡ tôi

Đều có nhiều lợi lộc.

 

Nguyện ai giận, ghét tôi

Hay vu khống, não hại

Đều nhân đấy phát tâm

Hướng về đường Giác Ngộ.
 
17-18. Tôi xin nguyện bảo hộ

Cho những người cô đơn

Khách bộ hành cần giúp 

Tôi làm kẻ chỉ đường

Nguyện làm cầu, làm thuyền

Cho kẻ muốn sang sông

 

Tôi nguyện làm hòn đảo

Cho người mong cập bến

Cho ai cần ánh sáng

Tôi nguyện hóa đuốc đèn

Tôi nguyện thành nhà cửa

Cho người cần nghỉ ngơi

Tôi nguyện làm tôi tớ

Cho kẻ cần người sai.

19.  Nguyện hoá làm bò quý
Thành bình ngọc như ý
Thành thuốc tiên, bùa linh
Nguyện thành cây như ý

Đáp nguyện ước chúng sinh.

 

20. Nguyện hóa thành nhu yếu
Căn bản cho sự sống
Của vô số hữu tình
Như đất, nước, lửa, khí.
 
21. Nguyện làm nhân duy trì
Sinh mạng của chúng sinh
Đến lúc không còn ai

Chưa chứng quả Niết Bàn.

 

 

Phát tâm bồ đề
 
22-23. Như chư Phật quá khứ 
Khi phát tâm bồ đề
Đều lần lượt tu học
Giới hạnh của Bồ tát.

 

 

Phần thưởng của sự phát tâm
 
24. Nay vì lợi chúng sinh
Tôi phát tâm bồ đề
Siêng tu học giới hạnh
Mà Bồ tát hành trì.
 
25. Sau khi các bậc trí

Đã phát tâm bồ đề

Rồi khiến nó tăng trưởng

Nên ca ngợi như sau:
 
26. Thật phúc thay cho tôi
Nay được mang thân người
Sinh vào gia đình Phật
Được làm con của Phật .
 
27. Vậy từ nay trở đi

Phải cư xử, hành động

Đúng truyền thống nhà Phật

Quyết không làm ô danh

Giòng giống thanh tịnh này.
  
28. Như người mù may mắn
Nhặt được viên trân châu
Tôi phát tâm bồ đề
Cũng may mắn như vậy.
 
29-31. Tâm Bồ đề cam lộ
Mang lại sự bất tử
Là kho tàng vô tận
Trừ khử cảnh nghèo cùng.
 
Là linh dược tuyệt vời

Chữa mọi bệnh chúng sinh

Là bóng mát nghỉ ngơi

Cho lữ khách mệt mỏi.

 

Là cầu đưa chúng sinh

Vượt khỏi đường nguy hiểm

Là vầng trăng dịu soi

Xoa tan bao nóng bức.

 

Là mặt trời chói lọi

Xua đuổi bóng vô minh

Tâm bồ đề này đây

Ví như chất đề hồ

Rút từ sữa Diệu Pháp.

 
Với người khách phiêu bạt
Là lữ quán nghỉ ngơi

Với người tìm an vui

Là cội nguồn hạnh phúc.

 

32. Nguyện chư Phật chứng giám
Tôi mời khách thập phương
Đến đây để tận hưởng

Niềm vui được thành Phật

Mong chư Thiên, mọi người

Tất cả đều hoan hỷ .
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG IV


THỰC HÀNH TÂM BỒ ĐỀ  
 

 

Trách nhiệm của Bồ tát

 

1.  Đã phát tâm bồ đề
Con Phật phải tinh tấn
Tu tập không biếng nhác
Không lìa hạnh Bồ tát.
 
2. Với công việc ngẫu hứng

Ta có thể nghĩ lại

Rằng nên làm hay không

Mặc dù ta đã hứa

 

3. Nhưng không thể buông bỏ

Điều Phật và Bồ tát

Đã quán chiếu chiêm nghiệm

Mà tôi đã thọ lãnh.
 
4. Tôi đã thề làm lợi

Cho tất cả chúng sinh
Mà không làm như hứa
Như vậy tôi lừa dối 
Phận tôi sẽ ra sao?
 
5. Kinh đã dạy rõ rằng

Ai định cho kẻ khác

Một vật dù nhỏ nhoi

Song rồi lại không cho

Sẽ đọa làm quỷ đói.
 
6. Tôi đã mời chúng sinh
Dự tiệc đại an lạc
Rồi tôi lại dối gạt
Đời tôi sẽ bi đát!
 
7. Người bỏ tâm bồ đề
Mà được quả giải thoát
Là điều khó nghĩ bàn
Chỉ chư Phật biết rõ.
 
8. Trong giới hạnh Bồ tát

Ai bỏ tâm Bồ đề

Làm chúng sinh bất lợi

Sẽ gặt quả báo ác.
 
9. Ai trong một sát-na
Cản trở người làm thiện
Khiến hữu tình bị hại

Sẽ gặp quả báo ác

Thật vô cùng khủng khiếp.
 
10. Phá an lạc một người 
Ta phải bị khốn khổ

Huống chi phá an lạc

Của vô số hữu tình

Ác báo không cùng tận.
 
11. Người phát tâm bồ đề
Nhưng hành động ngược lại

Sẽ trôi trong luân hồi

Khó trở thành Bồ tát.
 
12. Phải cung kính thực hành
 Những gì đã thệ nguyện
 Nếu tôi không tinh tấn
 Sẽ đọa chốn thấp hèn.
 

 

Giá trị của cuộc sống

 

13. Vô số Phật ra đời
Mang lợi đến chúng sinh
Nhưng tôi vì tội xưa
Nên không được ân phước.
 
14. Nếu tái phạm nghiệp cũ
Chắc chắn không thoát khỏi

Số phận thật hẩm hiu
Bệnh đau và tật nguyền
Lăn lóc trong nẻo ác.
 
15. Bao giờ gặp cơ hội

Gặp được Phật xuất thế
Đem lòng tin Phật pháp
Được thuận duyên tu hành?
 
16. Mặc dù được khỏe mạnh
Đủ ăn, không tổn thương
Nhưng thân này tạm bợ

Nó chỉ là ảo ảnh.
 
17. Với cuộc sống hiện nay

Khó tái sinh thành người

Mà không được thân người

Làm sao làm việc thiện?
 
18. Có cơ hội làm thiện
Mà bỏ qua không làm
Liệu tôi làm được gì
Khi thống khổ bức bách?
 
19. Nếu không làm việc thiện
Chỉ toàn làm việc ác
Dù trải qua muôn kiếp
Vẫn không biết cõi lành.
 
20. Đức Thế tôn dạy rằng
Thân người khó được thay
Như rùa mù dưới biển
Cổ ngoi lên trúng ngay

 Vào lỗ ván phiêu bồng.
 
21. Phạm tội nặng chốc lát
Đã phải bị đọa đày

Vào địa ngục vô gián
Vậy với tội muôn kiếp
Làm sao sinh cõi lành?
 
22. Chờ trả xong ác báo
Cũng khó thoát địa ngục
Bởi trong lúc trả nghiệp

Lại gây tội mới thêm.
 
23. Khi được thân con người

Là được cơ hội tốt

Cho mọi việc tu hành

Nếu bỏ cơ hội ấy

Thật không gì điên hơn.

 
24. Nếu đã biết như vậy
Mà vẫn ngu si, lười
Khi th