DÒNG PHÁP QUÁN THẾ ÂM
Ngọc Nữ
(ghi chép)
--- o0o ---
Phần 02
5. Cúng dường
6. Thiền định
7. Thời trang
8. Kinh điển
9. Tại sao tu ?
10. Diệu pháp liên hoa kinh
---o0o---
THIỀN ÐỊNH
Con đường Ðức Phật
đã đi qua để đạt đến bờ giải thoát, chính là khế hợp Tâm - Trí - Thiền -
làm một. Nhưng con phải hiểu đúng đắn về điều này, để tránh sai lầm mà đa
số người học đạo thường mắc phải, là chia chẻ cuộc đời, giáo pháp của Thế
Tôn theo sở kiến, làm theo pháp mà mình thích và cho là hợp với mình, lâu
ngày sinh khinh thường các pháp hành khác, đó là tìm cách chia rẽ hòa hợp
của người tu.
Thật ra không có một
pháp môn nhất định nào để trở thành Phật cả. Vì sao? Vì chủng tánh sai
biệt của chúng sanh. Ðây là những người cõi Tiên hết phúc xuống làm người
trần, đó là loài Rồng xuống thế vì muốn tu để cởi lốt Rồng. Kia là Ngạ Quỹ
muốn tu nên được thân người làm phương tiện thoát lên cõi trên,... chưa kể
đến những chúng sanh không dùng thân người để tu Phật đạo... Căn cơ,
nghiệp quả khác nhau thì sự vào đạo cũng khác nhau. Mỗi hành giả tuy không
biết rõ căn cơ nghiệp quả của mình, nhưng tự nhiên sẽ sinh ưa thích các
pháp hợp với mình và tu tập theo pháp ấy. Pháp và người liền nhau đi đến
giải thoát dù là người nào, hành pháp nào, không nhất định không khuôn
phép đúc sẵn nên gọi tự tánh của các pháp là bình đẳng.
Người tu phải lấy
tánh bình đắng ấy mà học Ðạo. Không vì mình theo con đường này mà chê con
đường khác. Khi Phật, Bồ Tát phân biệt diễn nói pháp Đại Thừa, Tiểu Thừa
là vì từ bi muốn chỉ rõ sự khác biệt giữa các chúng sanh, muốn chỉ rõ lối
tu hành có từng bậc quả chứng như thế nào để dứt nghi cho con. Chứ không
vì chê bai kẻ căn cơ thấp, không vì riêng thích pháp nào. Con phải lấy Tâm
không tranh ấy mà tu Phật đạo.
Các pháp được Thế
Tôn thuyết ra, tuy có sai biệt, nhưng đều mang vị Giải thoát, thì pháp nào
cũng không ngoài ba điểm cốt tủy để hành là Tâm - Trí - Thiền.
Tâm
đây có nghĩa gì? Tâm
là sự phát tâm cầu Đạo. Nếu không có tâm đạo thì người ấy chỉ là ngoại đạo
tu thần thông. Có tâm đạo, tâm hướng Phật này thì không bao giờ sa vào
cảnh giới ngoại đạo - Ðã tự thấy mình quyết chí tu theo Phật là trụ tâm
nơi Phật.
Trí
là tư duy. Trí đây
chưa là Huệ, nhưng tạm mượn sự suy nghĩ này để phân biệt, giảng gìải, tìm
hiểu trong tâm thức lời Phật dạy, hay vấn đề liên quan mật thiết đến sự tu
học của mình.
Thiền!
Không có nghĩa tông phái hay cách Tĩnh tọa nào. Con hãy nghe kỹ đây để
giải nghi lầm và hành Thiền đúng nghĩa. Thiền là sự ly cách chuyển đổi dần
hay đột ngột của tất cả những gì là chúng sanh thành một cái gì khác mà ta
gọi là Phật tánh.
Có Tâm cầu Đạo, đã
thấy vấn đề phải giải quyết, con tìm cách trụ vào đó , gạt bỏ mọi sự việc
khác khỏi tâm trí, khỏi đường đi, chính là con đang hành Thiền đấy.
Thí dụ: một hành giả
ao ước được hóa sanh vào cõi nước của Đức A Di Ðà Phật. Người ấy trì niệm
danh Ngài. Trì niệm như thế nào? Phải đạt đến nhất tâm trì niệm thì mới
gọi là đúng Pháp. Khi niệm Phật, tâm chưa định nên bất cứ tạp niệm nào
cũng có thể cắt đứt dòng chánh niệm. Nên phương tiện ngồi một nơi để động
của thân không ảnh hưởng đến tâm, là Hữu tướng tọa thiền. Khi dẹp
tan được tạp niệm, không cảnh ngoài nào ảnh hưởng đến dòng niệm trong tâm,
nên dù làm gì, đi lại, nói chuyện, ăn uống, vẫn thấy dòng niệm trong lòng
không hề ngừng, không hề gián đoạn, là Vô tướng tọa Thiền. Thiền đã
là một với Tâm - Trí. Tâm đã gạn lọc hết bợn nhơ của Tham - Sân - Si - Mạn,
Nghi - Ác Kiến. Trí đã sạch chướng ngại, vô minh, đường đã thông thì nơi
đâu mà không đến được. Ðạo từ ý niệm đã trở thành chính người đó, vì mọi
nẽo ngăn che đã không còn.
Các phương pháp hàng
phục tâm xao động khi tọa Thiền ngoài cách trụ vào câu niệm, còn có thể
trụ vào hơi thở, hoặc để định lực sớm phát hơn, với người đại căn là lồng
câu niệm làm một cùng hơi thở mà trụ tâm.
Tùy theo công hạnh
các tiền kiếp, tùy theo bổn nguyện, hành giả được quả chứng mà không tự
cầu. Ðó là Định.
Như thế, thì Thiền
Ðịnh đi liền nhau. Có Thiền tức có Ðịnh.
Trong ngoài không có
hai tướng là Thiền Ðịnh. Không Thọ, không lìa là Thiền Ðịnh–Không khởi
niệm mà vẫn niệm là Thiền Ðịnh.
Khi định lực đã có,
là hành giả có thể trụ trong dòng Chánh Ðịnh bất cứ lúc nào và thấy biết
sự thật mà những kẻ khác không thấy biết. Như Ðức Thích Ca nhìn thấy xuyên
suốt mười phương thế giới, tất cả các cõi nước của các Ðức Phật khác–nhìn
thấy các Bồ Tát và đại chúng, quyến thuộc đến nghe pháp mỗi khi ngài
chuyển pháp luân; lắng nghe chỗ không tỏ hiểu của các Bồ Tát ấy mà giảng
bày cặn kẽ – Ðịnh lực của Ngài thù thắng đến độ có thể giây lát khai thị
cho những hàng sơ cơ trông thấy những sự thật ấy gọi là Phật thị hiện thần
thông, cho đại chúng nương theo oai thần mà vào cảnh giới bất khả tư nghì
giải thoát của Phật, Bồ Tát.
Cho nên con phải
vững tâm, không khởi tà niệm, một mực nương Phật Tổ là Thầy, khởi từ tâm
thương mình khổ vì kiếp người, thương người cùng thân phận khổ như mình.
Hành trì đúng pháp, ở thế gian mà lòng thường lìa thế gian, thì sự giải
thoát của con là sự giải thoát của bao người. Một người trụ được trong
dòng Chánh Định, mang lại lợi ích hữu vi, vô vi không kể xiết cho người
khác– Khi cứu mộl người thoát bệnh hiểm nghèo, là cứu được một mạng người.
Nhưng cứu họ thoát được sân si là cứu được bao mạng người và cứu được cả
kiếp sau của họ–Không trụ công đức thù thắng của pháp vô vi, không bỏ công
đức hiện tiền của pháp hữu vi, người đã trụ trong chánh định là chỗ dựa
cho muôn loài.
Con phải y pháp mà
hành, thường soát lại tâm mình, để không lìa Thiền Định. Tự biết không cầu
thần thông hay mong cầu danh vọng. Làm sao mà có thể cầu những điều ấy nơi
Phật được thì quả báo không cầu tự đến.
THỜI TRANG
Nhu cầu hàng đầu của
con người là Ăn-Mặc. Ở người tu thì nhu cầu ấy chuyển thành Luật Nghi và
sự hoằng hóa là y Bát. Con làm thế nào để có được sự chuyển đổi ấy?
Bao giờ con cũng bị
cái mới lạ thu hút. Đó là vì tâm chưa an trụ được vào chốn bình an, nên
bất cứ cái động nào bên ngoài cũng khiến con tự nhiên, đương nhiên bị cuốn
theo. Nếu không sớm định tâm rồi từ đó đi tới Đại Ðịnh, không còn thấy tâm
có Ðịnh con sẽ gia nhập số người kia, săn chờ mới lạ nên tâm trạng lúc nào
cũng bất an, dù đang vui vẫn khổ, một nỗi khổ mơ hồ đọng lại trong tiềm
thức và bùng lên khi cuộc vui đã tàn, vì điều mới lạ nhất vẫn còn ở phía
trước. Nổi khổ ấy trì kéo, chứ không mở một cánh cửa vào không gian của
nội quán, dẫn con đi lên.
Tìm vui để chạy trốn,
để quên nổi khắc khoải nhuốm màu tuyệt vọng của một sinh linh tìm kiếm
tuyệt đối, thường hằng trong nẽo vô thường, con người thay đổi, tham gia
mọi cái mới và một trong những giải khuây ấy là Thời Trang.
Con thích ở trong
dám đông, nên chú ý đến thời trang, đó cũng là một tướng của Ngã. Không ai
vận y phục “đẹp” vào mà không có cái thích thú dù chỉ nằm trong tiềm thức
là được kẻ khác chú ý. Chú ý đến tức có phê phán. Sợ sự phê phán nên càng
thuận theo sự phê phán, tức đã vướng vào Danh Sắc và đánh mất chính mình.
Thời trang không có
nghĩa đơn thuần là y phục.
Ðó còn có nghĩa là sự ấu trĩ của tâm linh. Một người thật sự, mang
nổi hoài nghi về nguồn gốc, thân phận của mình sẽ không thể nào có thời
gian để tâm đến vấn đề nào khác ngoài vấn dề lớn nhất của con người là sự
hiện hữu của mình–Cái chết của vạn vật hữu thể và phía sau cái chết.
Quyết định dành cuộc
sống hiện tại để giải quyết những vấn đề ấy bằng cách thực nghiệm lởi của
Người đã tự giải thoát khỏi những hoài nghi này, là hành pháp Phật, là
mặc áo Tăng già. Như thế, cái y chính của cuộc đời là giải thoát. Nói cách
khác, đó là Giới, là Huệ và ngược lại, Thời trang hàm nghĩa vô thường, phù
du, nông nổi. Nên con thấy những người say mê thời trang là những người
chỉ biết tiêu chuẩn giá trị ở bộ trang phục, không còn biết đến một giá
trị nào khác. Họ là những cái mắc áo đúng nghĩa.
Mỹ không nằm trong
dục lạc, nên những y phục lấy dục làm kim chỉ nam không đạt dến nghệ
thuật, không phản ảnh được trí tuệ của một thời đại, một dân tộc mà chỉ là
những mãnh vụn của cả đại dương. Dục vọng bắt nguồn từ thuở có con người.
Như thế, những y
phục phải phép được Ðức Phật ngợi khen mang sắc thái nào? Ðó là những y
phục lấy công đức làm vải, lấy từ bi làm kiểu cách, lấy trí tuệ làm phương
tiện may thành. Hãy lấy những y phục ấy mà trang nghiêm thân tướng.
Chính thế, mặc y
phục chẳng vì xấu hỗ, chằng vì khoe khoang, chẳng vì thời tiết, mà chỉ vì
trang nghiêm thân tướng. Thân tướng đây chẳng phải xương thịt, máu mủ mà
gọi là thân tướng. Ðó là oai nghi, là vô dục, là vô ngã, là đồng thể tánh
với y phục.
Thân không lìa,
không khác y, y cũng không lìa, không khác thân. Ðó là chẳng phải thân
tướng mà gọi thân tướng. Chẳng phải y phục mà gọi y phục, chẳng nghĩa
trang nghiêm mà thật trang nghiêm.
Và như thế, chính là
đắp y, thọ giới. Và như thế là chân thật đắp y. Cho nên, chiếc y là pháp
bảo, là dấu vết của Đức Phật tại thế gian. Tôn trọng chiếc y chính là tôn
trọng Phật. Ðó không chỉ là vải vóc, đó là sự giải thoát hiện thành tướng.
Con đừng như những người kia, trụ vào quả báo lành của mình, sự tu học của
mình, phê phán những đệ tử đắp y trì bát của Phật – chẳng nên nhìn lỗi
người bằng đôi mắt của quan toà, huống nữa là phải tỏ thái độ khiêm cung.
Bất cứ một ai còn vướng mắc đều chịu một lực phản hồi. Nếu con không tó
thái độ, thì chẳng phải vì thế mà luật Nhân Quả không thấy lỗi lầm của họ,
nên vẫn cung kính chiếc y, vẫn phải cung kính các vị ấy.
Nếu con là Tỳ Kheo
không mang y bát, có thể vì lòng từ mà độ được vướng mắc của người phạm
giới kia, con hẵn độ – Nếu con không phải là vị Ðại Bồ Tát mà pháp âm cất
lên, xua được vô minh phiền não, bạt được nghiệp chướng sâu dày, đem người
phạm giới trỡ về nẽo chánh thì con đửng luận đến “tội” của họ. Nếu vị hành
đạo đó không thích hợp với con, con phải xa trong sự kính trọng. Tại sao?
Những người phá hoại chánh pháp là kẻ không tôn trọng chiếc y mà họ đang
đắp, con không thể vì họ không tự tôn trọng mà sanh bất kính với Tăng già,
tượng trưng bởi chiếc y ấy.
Hơn nữa y là giới,
họ đã phạm giới thì con đừng phạm giới theo, là hành động không tôn kính y
giới. Hành xử như thế mới đúng là Phật tử.
Những người đắp y
trong lòng, thân xác phàm phu mà thật hành Phật đạo – vì hiểu nghĩa muôn
pháp không tự tánh mà bỏ tướng đắp y để gần gũi chúng sanh, làm vạn điều
lợi ích, là Ðạo sư mà không trụ tướng Ðạo sư, là Bồ Tát mà không trụ tướng
Bồ Tát, thị hiện bệnh tật mà cứu khổ người khác, thị hiện xa hoa mà lòng
lìa tiền bạc, tâm trí không rời kẻ khó nghèo... những người vô tướng đắp y
như thế là những người thật hiểu nghĩa của y.
Chỉ có mỗì việc “nhỏ
nhặt” là việc "mặc" mà có thể phơi bày tất cả tâm tư trí tuệ, tình cảm của
con như thế, nên hãy cẩn thận trong việc mặc. Cẩn thận không có nghĩa chãi
chuốt, mà là con đang vận y phục với Tâm nào? Hay không có ý niệm nào hết?
Nếu được tâm không trụ thì thật đã bỏ qua được Tướng.
KINH ÐIỂN
Con đọc kinh điển
trong tâm tướng nào? Có bao giờ con tự hỏi mình như thế? Con không thể đọc
kinh điển như đọc sách, thích thú với những “đoạn hay”, tò mò với những “ý
tưởng lạ”. Ðọc như thế là tâm bất kính.
Con vì thế, vô tình
đóng cửa Chân Tâm, lòng không để tác động của Thần lực phát ra từ kinh
điển chuyển mình, nên cũng khó có thể hiểu được nghĩa kinh.
Kinh điển là sự kết
tập lời nói của Đức Phật Tổ. Lời nói ấy là văn sống động, giản dị, dễ
hiểu, đại chúng, Ở ngay trong đời sống tầm thường, bình dị của mỗi ngày.
Chỉ bày những chân lý thật như có thể nắm bắt được bằng thân thật như sự
có mặt vô hình đối với mắt thường của gió. Đọc kinh là học, là nghe kinh.
Khi mở quyển kinh,
lòng của con cũng phải sẵn sàng đón nhận những lời lẽ ấy với tất cả sự
kính tín của người muôn dặm thỉnh kinh. Hãy cẩn thận! Muôn dặm đường xưa
nay nằm trong Tâm con đấy!
Lời nói của Phật Tổ,
một bản ngã vô ngã, chính là pháp. Ðó không còn là lời nói, không còn là
ngôn ngữ, văn tự. Ðó là chân lý tuôn tràn, ẩn chứa trong đấy tất cả sức
mạnh của vũ trụ, của tánh không. Vì chúng sanh mà có tướng âm thanh, nên
có chúng sanh mới có pháp là thế.
Muốn biết chắc rằng
con hiểu đúng tinh thần quyển kinh mà con đọc, trước hết phải tận tường
nhân duyên thuyết kinh ấy, sau phảì nắm được mật chỉ trình bày xuyên suốt
tất cả lời lẽ của kinh. Dù Phật có thuyết bao nhiêu lời lẽ cũng đều để
hiển bày mật chỉ ấy. Mật chỉ ấy, mật mà không mật thường chính là Tựa của
kinh.
Những người nhân
nghe một câu kinh mà thấy Phật tánh, chính là hành giả đã hun đúc, nghiền
ngẫm vấn đề của mình từ rất lâu, tâm đã đạt chỗ tri hành hiệp nhất, lời
nói và việc làm là một, nên chỉ cần một cái gõ mạnh trợ duyên là bật sáng.
Ðó là người đã sẵn chứa tạng kinh trong tâm. Người khác cũng có mà cũng
không vì chưa tự thấy tự biết tạng kinh của mình.
Lời nói của Người có
thể khiến người khác bỏ những việc khó bỏ, làm những điều khó làm ắt hẵn
không chỉ là lời nói.
Dỡ một trang kinh,
là nghe tiếng nhạc Trời. Đọc một dòng chữ là thấy hào quang tỏa sáng, đón
nhận nghĩa lý, như là uống giọt cam lồ, con sẽ là người sống cùng thời
được nghe chính tiếng Phật thuyết giảng.
Không đọc kinh điển
trong tinh thần thu thập kiến thức–kiến đã là chướng ngại rồi–thì kinh
điển bao giờ cũng mang lại lợi ích nhất định cho con. Ðọc kinh trong trạng
thái tinh khôi, thì tâm hồn con là tờ giấy trắng được in đậm Chân lý giải
thoát của Chư Phật. Con hãy dọc kinh điển trong tinh thần thật lắng ấy.
TẠI SAO TU?
Tại sao phải đặt vấn
đề tu, khi điều đó chưa là cấp thiết đối với nhiều người. Có người vào Ðạo
một cách lự nhiên, dễ dàng nhờ căn lành đã trồng từ nhiều kiếp trước. Có
người trong đau khổ cùng cực chợt hiểu chỉ có Tu mới thoát khổ. Còn đại đa
số không thấy cuộc đời đáng buồn đến độ phải “bỏ nó”, hay cuộc đời của
mình suy đến cùng cũng “chẳng có gì đáng phàn nàn” thì tu để làm gì?
Thật ra ý niệm Tu
làm nhiều người sợ hãi. Tu là từ bỏ những gì mình đang yêu thích thì quả
là khó khăn và không hứa hẹn điều gì tươi sáng cả...
Thiện-Ác là hai mặt
của cuộc đời. Nhưng Thiện Ác cũng là hai mặt của mỗi con người và không
thể dễ dàng phân định ranh giới giữa hai khuôn mặt này, không thể dễ dàng
quyết định trắng đen.
Mỗi người sinh ra
đời đều mang sẵn liều lượng Thiện Ác trong mình–Thiện là Phật mà Ác là
chúng sanh. Nhưng thế nào là Thiện và vì sao gọi là Ác? Bất cứ một hành
động hay Tư duy nào không lấy Tôi làm nguyên nhân và đích đến thì đó là
Thiện. Ngược lại là Ác. Nhưng không có Tôi thì ai hiện hữu? Ai làm việc
Thiện ấy? Ðó là Phật của con hay Phật trong con. Có người sẽ gọi đó là
Thượng Ðế hàm nghĩa chân lý, điều toàn thiện. Nhưng Thượng Ðế là ban bố dù
không nhận lại vẫn mang tướng thi ân. Còn Phật thì ngay cả ý thức thi ân
cũng không có. Phật chính là sự tự tại của Thiện. Như thế thì ngoài bản
ngã của con ra, mà con nghĩ đích thật là mình, còn có một bản ngã khác, là
một đời sống tự do, không lìa con nhưng không lệ thuộc, sẵn sàng hiện diện
khi con không tìm cách nhấn mạnh sự có mặt của mình như một thực thể chân
lý. Bản ngã ấy là chân tánh của con, Chân tánh ấy là Phật tánh.
Không tìm thấy bản
ngã thật ấy, con sẽ đau khổ, sẽ bất an, con không bao giờ bằng lòng với
cái mình đang có, hay bằng lòng với thế giới quanh con, vì không thể nào
sống yên ổn hòa bình với cái Ác được, dù đó là cái Ác của chính mình.
Tu là tự hoàn thiện
mình. Tu không có nghĩa mất cả ánh nắng của cuộc đời, chôn vùi một cái gì
thân thiết của con mà có nghĩa sống hoàn toàn, tròn đầy, như đập vỡ vỏ
cứng của một quả ngon để thưởng thức.
Không sợ chữ Tu thì
con sẽ hiểu tại sao phải tu. Ai cũng có 1 lần cảm thấy sự bất lực vô cùng
của mình khi đối diện với cuộc đời, dù là ai chăug nữa. Họ có thể thành
công trong những mặt nào đó và lấy hào quang của thành công này che lấp
buồn tủi của thất bại khác, nhưng sự đền bù này cũng chính là sự xác định
mặt khiếm khuyết kia. Cái nhân của đau khổ vẫn còn đó, dù được che giấu
dưới lớp tro than của quên lãng hay nhung gấm của hạnh phúc hiện tiền.
Người đời vẫn thường chấp nhận và bằng lòng với cái tương đối ấy. Nên xét
lại là hạnh phúc đối với họ giản dị quá–là cho qua đi những đau khổ và thụ
hưởng cái mà họ đang có. Ðó là làm quen với Ác và đi đến kếl luận có thể
dung hoà Thiện Ác. Vì Ác là gì nếu không là Ðau khổ?
Nhưng còn một lối
thoát, còn một con đường dẫn con đến nơi ý niệm về Ác cũng không có, huống
là sự hình thành của tội ác. Bóng dáng đau khổ vắng bặt nơi đây, chỉ thuần
một màu An lạc. Tại sao con không dấn thân vào con đường hạnh phúc viên
toàn ấy? Con dường ấy là đường Tu.
Cho nên, Tu là đến
với những gì vui hơn cái mà con đang hưởng. Những kỹ luật gặp trên đường
Tu là điều tất yếu để giải quyết chất Ác. Chính là sự hoại diệt của điều
ác để hiển bày điều Thiện. Sự hoại diệt này là Nhân là Quả – mà điều Ác
chất chứa trong nó nên phải lãnh chịu. Khi Ác đã không còn thì không có
Sống-Chết, không có đau khổ, không có ranh giới, không còn phải khép mình
vào căn phòng Thiện để đối kháng với Ác, Thiện là con, con là thiện, thì
điều gì con làm lại không là điều thiện? Nơi đâu trong con lại không là
không gian của Thiện.
Thì còn phải khép
mình vào một lề lối nhất định nào để hành Thiện? Ðó là giải thoát khỏi cái
ác, khỏi đau khổ, khỏi cả ý niệm về dau khổ, khỏi cả ý niệm về sự giải
thoát ấy. Ðó chính là giải thoát.
Vì thế, Tu không
phải là từ bỏ hạnh phúc cuộc đời để đến với hạnh phúc của Ðạo.
Tu là đi từ hạnh
phúc mong manh đến hạnh phúc vĩnh cữu. Tu là vẫn hít thở không khí ấy, vẫn
nhìn thấy vầng dương cũ rực nắng mỗi ban mai, vẫn bầu trời đầy sao của
ngày xưa choàng lên tâm tư mỗi khi đêm đến, vẫn những người con đã gặp bao
lần, vẫn hoàn cảnh mà cuộc đời đã đặt con trong đó... Nhưng con ơi! Nhận
thức của con không còn như xưa nữa! mặt trời thế gian, chỉ là hình ảnh thô
thiển của mặt trời đã sáng trong con. Những người con gặp gỡ là những
chiếc bóng của chính họ, mờ nhạt và yếu ớt trước cuộc đời, trước sinh tử
của mình và cuộc đời cùng những hoàn cảnh thuận-nghịch, buồn vui xưa, nay
chẳng còn chuyên chở được tình cảm của con. Con đã thoát con nhỏ bé ngày
xưa. Ngày xưa... phải, vì những tâm tánh nhãn quan cũ, cứ lùi mãi vào vô
tận, mang tính vô thực của một huyền thoại, nhưng thiếu chất thơ, con bây
giờ mới thật sự sống.
Hãy san bằng chướng
ngại ngăn cách con với Thường Hằng. Hãy làm người lữ khách mà mỗi bước
chân đến cõi không thời gian nở đóa sen vô ưu. Hãy là con mãnh sư uy dũng
giữa đám người đành chịu khuất phục trước nỗi khổ thầm - Tu là một quyết
định sáng suốt nhất trong đời người. Không chỉ là sự sáng suốt của tuổi
nào 10, 20, 70, 80 hay hơn nữa, mà đấy là sự sáng suốt của vô lượng tuổi,
vượt ngoài giới hạn của tuổi tác, là tiếng nói của Phật trong con, vang
gọi con vào cuộc Ðại hành hương. Hãy đi chớ sợ! Lấy lòng tin thắp đuốc
soi đường, mỗi nổ lực sẽ có vạn nghìn mắt Phật thương nhìn, mỗi vấp ngã sẽ
có vạn nghìn cánh tay Bồ Tát nâng lên. Con đi bằng sức mình nhưng không
bao giờ lẽ loi, không bao giờ cô độc hoàn toàn.
Hãy tiến tu!
DIỆU PHÁP LIÊN HOA
KINH
Nghe Kinh Pháp Hoa
và trì tụng, con được an ổn thân tâm. Nhưng để hiểu và hành thì con chưa
đạt được điều ấy. Vấn đề phải tìm hiểu và quán, tu trong kinh là Tri Kiến
Phật.
Tri Kiến Phật, đó là
sự thấy biết của Phật đà. Đó là Trí huệ viên mãn tột cùng. Nói tất cả mọi
người, mọi vật đều có Phật tánh, là nói tất cả chúng sanh đều sẽ được Tri
Kiến Phật. Hay chúng sanh đều là Phật. Điều này con thật khó mà tin được.
Vì sao? Vì con chưa thấy, chưa được, chưa ngộ phật Tánh–Phật Tri Kiến–nên
không nhìn thực tế như nó vẫn thường hằng.
Như khi con buồn,
tìm an ủi, quân bình cho tâm hồn trong sự chiêm ngưỡng tượng Phật. Ðau khổ
ngập trong lòng nên trông tượng Ðức Di Lặc, con không “cảm” được từ tâm
của Ngài. Vì tượng Di Lạc Bồ Tát là biểu tượng của pháp Hỷ, sự an ổn vô
song về mặt tâm linh, điều cực kỳ xa cách với tâm trạng hiện tại của con.
Con trông tượng Ðức Phật Tổ thấy Ngài không gần gũi trần gian, con nhìn
tượng tạc vị Bồ Tát với nét thương cảm chúng sanh qua gương mặt đượm buồn,
và nhận rằng, đích thật đây là “Phật của con”. Con cảm thấy một mối giao
cảm đặc biệt với vị ấy và mở lòng cầu nguyện. Thật ra Chư Phật vẫn đồng
tâm thương xót chúng sanh chỉ vì kiến chấp của con mà Phật hóa chẳng đồng.
Ở nơi không hai mà
lập các pháp là chư Phật tùy tâm địa của chúng sinh mà thuyết giảng. Với
người thích giáo pháp Thanh Văn, Phật vì đó nói pháp ấy là Thanh Văn. Với
người thích Ðại Thừa, Phật vì đó nói pháp ấy là Đại thừa. Nhưng đâu phải
vì danh tự Tiểu thừa, Ðại thừa mà giáo pháp không cùng xuất sanh từ Phật
tri kiến? Các pháp sai biệt ở văn tự, bản tánh vốn là sự giác ngộ của
Phật, không hề có khác nhau. Vì thế muôn pháp đều dẫn đến Giác Ngộ, dù
hàng thanh văn, không biết không hay Phật đã gieo Phật trí nơi mình.
Một người cư xử
không phải với con, ức hiếp con, con thở than, buồn bã hay giận dữ. Tại
sao? Tại sao? Con cần phải phản ứng lại sự việc trên như thế? Có phải vì
trong con những ý niệm về ức hiếp, bất công... vẫn còn đầy dẫy, nên con
cảm thấy sự bất công, tức là chính con cũng không khác người kia. Như thế,
con có thật sự “tốt” hơn người kia, con là “Thiện” và họ là “Ác” không?
Tuy con không hành Ác nghiệp, nhưng tâm không lìa ác, nên tất cả giai đoạn
nhân quả của điều ác, vẫn diễn biến đầy đủ trong con. Đó là sự thấy biết
chúng sanh.
Nếu trong cảnh tắng
hội đó, đau khổ của con chuyển thành thuận cảnh, con sung sướng biết bao.
Thế nghĩa là trong đau khổ có mầm hoan lạc. Hạnh phúc đến; sau khi vượt
qua đau khổ là hạnh phúc có sự dự phần của trí Huệ. Trí Huệ là giai đoạn
mở đầu Tri kiến Phật.
Trong một hoàn cảnh
tuyệt vọng, con vẫn còn niềm tin vào điều vượt ngoài phạm trù của lý trí,
sẽ xóa tướng tuyệt vọng mà con đang nhận biết rõ ràng. Niềm tin ấy khiến
con niệm Phật cầu thoát khổ–cầu điều “kỳ diệu”. Ðó chính là niềm tin vào
Bản tánh thiện vẫn chi phối vũ trụ. Sợ hãi là tin vào sự chiến thắng của
điều ác. Nếu có một sự tin tưởng tương đương vào điều thiện thì sợ hãi
tiêu tan. Phải chăng giây phút cầu nguyện ấy, con vượt qua tướng thời gian
nên vượt qua tướng sinh tử. Ðã nói vớì hiểm nguy, với tứ đại, với giả
duyên, với tam nghiệp, rằng bất chấp sự cản trở của các ngươi, bất chấp sự
trói buộc mà các ngươi đang giam giữ ta, ta vẫn tiến lên, tiến mãi về phía
trước, về cảnh giới có tri kiến tuyệt đối sẽ giải thoát cho ta khỏi hoàn
cảnh hiện tại. Ðó là vươn tới Phật và tri kiến Phật, như một phép mầu. Sẽ
đưa con vào nước trí. Sự mầu nhiệm mà con mong cầu phải đến, vì bản thể
của Phật vốn không hạn lượng, không tranh nên không gặp cảnh tranh luôn là
thuận cảnh. Ðề Bà Ðạt Ða là Phật vì đã chỉ cho chúng sanh thấy Ðịnh lực
cũa Phật Tổ. Đề Bà Đạt Ða là Phật vì đã phỉ báng Phật: Ghét Phật vì Phật
là Phật. Hình ảnh của Phật, là hình ảnh mà ông chối bỏ–tức là ý niệm về
Phật có trong ông. Người ta không thể phản đối một hình tượng không hề
hiện hữu. Nghiệp chướng, chúng sanh kiến, ngăn trở Đề Bà Ðạt Ða cảm Phật,
hoà nhập vào Phật, thấy Phật nơi mình. Nhưng Phật trong ông vẫn hiển hiện.
Tại sao con lại nghĩ rằng ông ta “ghét” Phật mà không biết rằng ông chưa
bao giờ không kính Phật? Ghét hay thương, chỉ là hai cách nhìn một tiền đề
sẵn có.
Cách này hay cách
kia là phương tiện diễn đạt, nên tướng ghét cũng như tướng thương kính mà
thôi. Ðề Bà Ðạt Ða là Phật thị hiện làm Bồ Tát độ oán tắng.
Phải biết rằng mọi
sự con vẫn cho là thuận nghịch từ chỗ đứng của con đều không đúng. Tâm con
đem vào những phán đoán mà tự thể các hiện tượng hay pháp đó không có. Thí
dụ: con vẫn cảm thấy mặt đất rất vững chắc. Tự bao kiếp vẫn cho rằng vòng
tay của Ðất đáng tin cậy vô cùng. Nhưng hãy thử tưởng tượng, nếu mặt đất
trở thành trong suốt thì bầu trời mênh mông, đáng sợ trên đầu, vẫn lại có
dưới chân, con không có nơi trú ẩn an tâm. Con sẽ thấy chân lý Trời trên
đầu, đất dưới chân trở thành nghịch lý. Nước chảy xuôi chỉ là giả tướng,
hãy tìm tướng xuôi ngược nơi tâm, và luôn nhớ không thể tin vào con để
quyết định chân tướng của sự vật.
Vì sao con phải lễ
Phật? Vì Phật ở ngoài, không đãnh lễ vì Phật ở trong ư? Như thế vẫn chưa
thấy Phật, đãnh lễ Phật mà không hướng vào đâu, không hướng về phía trước,
không hướng về phía sau, không trên, không dưới, không phía trong, chẳng
phải không phía trong. Lìa tướng quì, tướng đứng vào nơi vô biên, đó là
ngộ nhập Phật Trị kiến.
Hoa sen mọc từ bùn
nhơ, có mùi thơm ngào ngạt đó là nhờ mọc từ bùn mà có hương hay bản chất
của sen là thơm? Từ nơi muội manh lại nảy điều cao quý, chính vì tánh của
bùn vốn không nhơ, tướng bùn lầy là phương tiện cho hạt giống nảy mầm. Vì
muốn chỉ tánh của bùn và sen là một nên hoa phải chấp tướng hiện hữu.
Nếu không muốn chỉ
tánh ấy, thì vắng bặt tướng tịnh và bất tịnh, vắng bặt nói năng, tên gọi,
không có tướng Thiện ác, chúng sanh và Phật. Tánh không tên ấy khi động
thì hóa ra vũ trụ, không động thì vô hình, rắn hơn sắt đá tạm gọi là Tánh
Không.
Ngộ Tánh Không của
vạn vật là ngộ Phật tri kiến. Không ghét người xấu, không chuộng người
lành, không ngại đau khổ, không ưa niết Bàn, với sức kham nhẫn vô biên,
thề tận độ chúng sanh thành Chánh Gìác, tất cả chúng sanh chưa thành Phật
thì con nguyện chưa thành Phật đó là pháp môn tự tu dẫn đến Tri kiến Phật.
Có phát tâm như thế mới có thể hiểu kinh pháp Hoa, mới thật trì kinh Pháp
Hoa. Đó chính là thật hành Diệu pháp.
Con hãy phát tâm.
--- o0o ---
Mục lục
| Phần 01 | Phần 02
| Phần 03 | Phần 04
| Phần 05
--- o0o ---
Vi tính : Mỹ Hồ
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |