BỔ TÁT TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT TRONG
PHÁP HOA KINH
HT Thích Trí Quảng
--- o0o ---
Sau khi thành tựu tam pháp ấn: Nhà
Như Lai, áo Như Lai, tòa Như Lai, mà đức Phật dạy trong phẩm Pháp sư
thứ 10, hành giả được bát bộ chúng bảo vệ và các hóa Bồ
tát đến trợ duyên tu, đạt được trạng thái tâm yên tĩnh ở
độ cao. Từ đó, thấy được chơn Phật, mà phẩm 11 diễn tả là
thấy tháp Đa Bảo xuất hiện. Thấy tháp, mở được cửa tháp và
vào sống trong tháp, nói khác, thấy đạo, ngộ đạo, thành Phật,
mới có được pháp chân thật, các giai đoạn tu trước chỉ là
pháp phương tiện.
Đối trước Phật Đa Bảo và Phật
Thích Ca, các Bồ tát mười phương phát nguyện hoằng truyền kinh Pháp
Hoa ở cõi Ta bà, nhưng đức Phật từ chối. Ngài cho biết việc
tuyên dương chánh pháp ở Ta bà đã có Bồ tát bổn địa là Bồ
tát Tùng địa dũng xuất thừa sức đảm đương. Chỉ có kinh Pháp Hoa
mới nói đến Bồ tát Tùng địa dũng xuất và Phật phú chúc kinh
này cho các Ngài. Trên tinh thần này, Bồ tát bổn địa quan trọng
hơn, giữ vai trò chính yếu, Bồ tát mười phương chỉ trợ lực mà
thôi.
Phật vừa dứt lời, có đến 6 vạn
hằng hà sa Bồ tát xuất hiện. Các vị này sẽ thành Phật, nói
khác, ở Ta bà có điều kiện tu hành thành Phật hơn các thế giới
khác. Thanh văn rất ngạc nhiên, vì từ trước, Phật thường ca
ngợi Phật và Bồ tát ở thế giới khác và nơi đó cũng dễ tu,
dễ thành Phật hơn. Nhưng chỉ có hội Pháp Hoa, Phật ngợi khen Bồ
tát ở Ta bà, nơi có nhiều tệ ác. Điều này nhằm gợi ý giúp
chúng ta thoát ly tánh đối lập ở trong vòng tương đối của thế
giới nhị nguyên: tốt xấu, giỏi dở, ô uế, thanh tịnh. Thí dụ như A
Xà Thế phạm tội ác nhất, nhưng cũng phát tâm cao nhất, hộ đạo
mạnh nhất. Sống trong hoàn cảnh ác, chúng ta mới phát hiện được
cái nào là phiền não nghiệp để xóa. Nếu ở thế giới an vui,
chúng ta tưởng phiền não không còn, mà kỳ thực nó tiềm ẩn bên
trong không mất. Thật vậy, theo kinh nghiệm bản thân, tôi ở Việt Nam
biết được nhiều điều tồn tại cần điều chỉnh, trong khi ở Nhật,
sống với người tốt, phiền não khó có cơ hội bộc phát. Ở
đây, sống với người ngang bướng nhiều, nên nghe chướng tai, thấy
gai mắt, thì tự biết tôi còn hai cái xấu là chướng tai, gai mắt.
Tưởng mình không biết giận, biết buồn, nhưng nay có người làm
mình giận, buồn được, phải sợ mà lo khắc phục sai trái ấy. Nếu
thực tốt, ở trong hoàn cảnh đáng buồn, nhưng không buồn, đó là
con đường đi lên cõi thánh.
Ở Ta bà tức ngũ trược, đủ
thứ phiền nhiễu quấy rầy, chỉ riêng đòi hỏi của thân ngũ ấm
cũng đủ mệt, làm sao lòng không phiền theo. Lòng hay tâm bồ đề
của chúng ta ngay ở trong thế gian này mà không bị hoàn cảnh sống,
phiền não chi phối, mới thành Phật. Kinh Pháp Hoa diễn tả rằng trong
Ta bà, trong lòng đất có vô số Bồ tát Tùng địa dũng xuất, trong
khi các kinh khác gọi là hạt châu hay Phật tánh.
Theo văn tự kinh, các Bồ tát này
từ trong lòng đất hiện ra. Hiểu theo Tâm địa quán, Phật ví tâm như
đất, cỏ dại hay hoa mầu đều từ đất mọc lên, cũng vậy, tốt
lành, xấu ác đều từ tâm sanh ra. Trong tâm chúng ta có Bồ tát,
Phật hiện ra, nếu chỉ nhìn xác thân sẽ chẳng thấy Phật, kinh ghi là
Di Lặc không hề biết mặt một vị Bồ tát cựu trụ nào. Nói cho dễ
hiểu, khi A Xà Thế chưa phát tâm cúng dường Phật, mọi người vẫn
nghĩ ông phá Phật. Nhưng đến khi tâm ông rúng nứt, vị Phật trong
tâm A Xà Thế xuất hiện, biến con người cực ác thành cực thiện,
có công đối với đạo.
Vì vậy, điều quan trọng là đất
rúng nứt để tâm bồ đề phát ra, nên Phật khuyên Bồ tát 10
phương đến Ta bà chỉ làm cho người thấy được cái tốt để họ
phát tâm và tự tu, không thể tu thay. Trong kinh ghi Phật vừa dứt
lời, ba ngàn thế giới rung động, ý này nhằm nói lên cuộc sống
siêu tuyệt, kỳ vĩ của đức Thích Ca làm rúng động biết bao tâm
hồn nhân thế. Ý này thể hiện rõ nét qua lịch sử của đạo Phật
tồn tại hơn 25 thế kỷ. Từ Phật Niết Bàn đến nay, tiếp nối việc
làm của Phật, vô số Bồ tát ra đời cứu nhân độ thế. Ở
thời tượng pháp, tiêu biểu có Trí Giả Đại sư phát huy tinh thần
Pháp Hoa, được tôn kính như Tiểu Thích Ca tái sanh ở Trung Quốc.
Đến thời mạt pháp, Nhật Liên Thánh nhân xuất hiện canh tân Phật
giáo, được xưng tán là Thượng Hạnh Bồ tát. Thời kỳ nào cũng
có người tương ưng giữ gìn mạng mạch Phật pháp.
Các Bồ tát này thân màu hoàng kim,
đủ các tướng tốt, đạo hạnh viên mãn, nghĩa là không còn lỗi
lầm, giới đức thuần trong sạch, đáp ứng được mọi yêu cầu
của chúng sanh, mới có khả năng hoằng truyền chánh pháp ở thế
giới đầy đủ trược ác này. Đức Phật đưa ra mẫu Bồ tát Tùng
địa dũng xuất để nhắc nhở chúng ta muốn tu hành, giáo hóa chúng
sanh cần phải theo mô hình hành đạo đó.
6 vạn hằng hà sa Bồ tát đặt
dưới sự lãnh đạo của 4 vị Bồ tát thượng thủ: Thượng Hạnh,
Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, An Lập Hạnh. Thượng Hạnh Bồ tát tiêu
biểu cho người làm được những việc khó làm nhất. Nói khác,
gợi nhắc chúng ta thực có tài thì lúc khó khăn phải gánh vác,
hoàn cảnh dễ, hưởng lợi để dành cho kẻ thấp chí bạc tài. Quan
trọng là chúng ta cần rèn khả năng giỏi thật sự và nằm trong
lòng đất, tức chuẩn bị thật đầy đủ để khi khó, giang tay nhận
lãnh. Vô Biên Hạnh Bồ tát chỉ cho khả năng đa dạng, làm được
nhiều việc. Từ việc lớn đến việc nhỏ, không từ nan, đều hoàn
tất, mới là mẫu người hữu ích cho đời. Bồ tát Tịnh Hạnh hoàn
toàn trong sạch, thanh tịnh, người không còn chê trách được. Nhờ
phạm hạnh thanh tịnh, tác động cho người kính phục, phát tâm, mới
có khả năng lãnh đạo chúng. Theo Bồ tát Tịnh Hạnh, chúng ta tự
quán sát bản thân, tu sửa không còn lỗi lầm hoặc lắng nghe
người phê phán mà sửa đổi. Cuối cùng là An Lập Hạnh Bồ tát
hay mẫu sống không đua đòi, bằng lòng với hoàn cảnh của mình,
từ đó tiến tu đạo nghiệp. Không phải an phận để mặc cảm, buồn
tủi, thối chí, sanh ra các tánh ác.
Tóm lại, chúng ta phát tâm đi từ
lộ trình Bổn môn Pháp Hoa ở Ta bà, muốn tìm Bồ tát Tùng địa
dũng xuất hay tìm Đạo sư, tìm pháp lữ tu hành, chúng ta tìm người
có nếp sống theo mô hình kiểu của 4 vị Bồ tát thượng thủ nói
trên để nương theo tu tập. Mặc khác, nỗ lực rèn luyện tự thân,
phát triển hạnh đức theo việc làm của Bồ tát Thượng Hạnh, Vô
Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, An Lập Hạnh. Kết hợp lực gia trì của các
Ngài với khả năng thực chứng của chúng ta, đó là Niết Bàn
tịnh lạc mở ra cho chúng ta an trú ngay trên cõi đời ác trược
này.
THIỀN ĐẠO
DIỆU SƠN
"Này các Tỳ kheo! Đây là
những cội cây, đây là những căn nhà trống, hãy hành thiền,
chớ có phóng dật, chớ để hối hận về sau".
(Song Tưởng - Trung Bộ I)
"Tỳ kheo hãy tu thiền!
Chớ buông lung phóng dật!
Tâm chớ đắm say dục
Phóng dật nuốt sắt nóng
Bị đốt chớ than khổ"
(Pháp cú 371)
Đây là những lời nhắc nhở ân
cần nhất của đức Phật khi Ngài giáo hóa hàng đệ tử. Lúc nào
Ngài cũng nhấn mạnh đến tam học Giới- Định-Tuệ. Chớ buông lung,
chớ phóng dật, chớ đắm say dục lạc tức là giữ giới. Hành
thiền mà không giữ giới thì không thể phát triển định và tuệ
được.
"Ai sống một trăm năm
Ác tuệ không thiền định
Tốt hơn sống một ngày
Có tuệ tu thiền định
(Pháp cú 111)
Tu thiền trí tuệ sanh
Bỏ thiền trí tuệ diệt
Biết con đường hai ngã
Đưa đến hữu, phi hữu
Hãy tự mình nỗ lực
Khiến trí tuệ tăng trưởng
(Pháp cú 282)
Qua các kinh điển hệ nguyên thủy,
đức Phật luôn luôn xác định rõ "có thiền định mới có trí
tuệ". Chỉ có trí tuệ mới phá tan vô minh, tùy miên bám sát
chúng ta từ vô thủy đến nay. Trí tuệ có công năng giúp chúng ta
giải thoát và giải thoát tri kiến. Nếu nội tâm không an định trí
tuệ khó tăng trưởng. Như vậy định huệ không rời nhau.
Trong kinh Pháp Bản Đàn, Lục Tổ Huệ
Năng dạy: "Đại chúng chớ lầm nói là định huệ sai khác. Định
huệ đồng thể, không phải là hai. Định là huệ, huệ là định"
(phẩm Định Huệ)
Trong A Hàm Phật dạy "Vô ngã là
Niết Bàn". Thiền sư thì bảo "Vô tâm thị đạo", "tâm
bình thường là đạo". Các Ngài khi thì nói Niết Bàn, khi thì
nói Phật, tâm, thiền, đạo... thiền đạo có hay không có? Nếu
chúng ta cứ đem phàm tình lý giải các danh từ ấy, các Ngài sẽ
quở là "lấy tranh che đầu" hay "kẻ ngu vào biển đếm
cát..." Do đó khi khách đến hỏi Thiền sư Duy Khoan:
- Đạo ở đâu?
Sư đáp:
- Ở trước mắt.
Khách hỏi tiếp:
- Sao con không thấy?
Đáp:
- Vì ngươi có ngã nên không thấy.
- Con có ngã nên không thấy, Hòa
thượng thấy chăng?
- Có ngươi, có ta nên chẳng thấy.
- Không con, không Ngài lại thấy
chăng?
- Không ngươi, không ta, ai còn thấy?
(Thiền sư Trung Hoa I)
Khi không ngươi không ta tức dứt
hết nhơn ngã, bỉ thử... thấy nghe hiểu biết rõ ràng thì cần gì
hỏi đạo ở đâu, và cũng không có ai để chạy đông chạy tây
tìm thầy điểm đạo.
Nhục thân của hai Thiền sư Vũ Khắc
Minh và Vũ Khắc Trường để lại trên 300 năm, nay còn thờ tại
chùa Đậu, Hà Nội, đáng cho chúng ta suy gẫm và tin sâu. Tin vào
sự hành thiền đưa đến chứng đạo, và điều này không hạn cuộc
bởi thời gian, không gian. Và sở dĩ hành thiền là một phương
tiện đưa đến chứng đạo là vì trong ta đã có sẵn chủng tử
Phật; phải chăng đó là như lời Thiền Sư Trí Huyền diễn tả:
Ngọc lý bí thinh diễn diệu âm
Cá trung mãn mục lộ thiền tâm
Hà sa cảnh thị bồ đề cảnh
Nghĩ hướng bồ đề cách vạn tầm
(Trong ngọc ẩn thinh diễn diệu âm
Nơi kia đầy mắt bày thiền tâm
Hà sa cảnh là bồ đề cảnh
Nghĩ đến bồ đề cách vạn tầm).
----------------------
Source: LotusNet home page